Văn hóa

DÂN TỘC TÀY

20/09/2016

I. SƠ LƯỢC VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC TÀY HUYỆN MÈO VẠC
1. Khái quát chung
Dân tộc Tày là một cộng đồng người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, có dân số đông nhất trong các dân tộc thiểu số nước ta. Dân tộc tày ở huyện Mèo Vạc sống và cư trú ở hầu hết các xã, thị trấn nhưng sống tập trung đông nhất ở các xã như: Thị trấn Mèo Vạc, Nậm Ban, Niêm Sơn, Niêm Tòng với tổng số 2445 hộ chiếm khoảng 3,06% dân số toàn huyện.
2.Về đời sống kinh tế:
2.1. Trồng trọt:
Tổ tiên người Tày từ xưa đã biết làm ruộng, đặc biệt là ruộng nước. Nghề trông lúa nước là chủ yếu, bà con dân tộc tày xưa kia chỉ trồng lúa nếp để phục vụ gia đình, Tuy vậy đến nay họ cấy hầu hết là lúa tẻ, chỉ cấy ít lúa nếp để đồ xôi, làm bánh và phục vụ cho các ngày lễ tết của dân tộc mình.
Đồng bào Tày chủ yếu làm ruộng nước ở các thung lũng ven sông, suối, ruộng bậc thang hay nương, rẫy. Ngày xưa hàng năm chỉ trồng một vụ hết mùa đông để hoang vụ sau. Ngày nay đất được khai thác mạnh hơn bằng cách làm thủy lợi, tăng diện tích, tăng vụ làm hai, ba vụ trong năm.
Từ xa xưa đông bào Tày đã biết dùng cày, bừa trong việc canh tác. Khi cày, bừa đông bào thường dùng sức Trâu để kéo. Ngày nay đồng bào dùng các loại cày, bừa cải tiến…. Họ đã cày, cấy đúng kỹ thuật mới cày sâu, bừa kỹ và cho năng suất cao.
Sau khi cày cấy người dân thường ít bước chân tới ruộng, họ để mặc tùy thiên nhiên. Nếu bị hạn, bị sâu bọ họ tin vào cúng bái. Tuy nhiên cần lưu ý vào kinh nghiệm thả cá ruộng của Dân tộc Tày có tác dụng sục bùn làm lợi cho sự phát triển của cây lúa. Đến nay đồng bào đã chăm lo làm cỏ, bón phân, chăm lo nước, bắt sâu bọ việc này đã trở thành tập quán.
Khi lúa chín đông bào gặt bằng liềm nếu là lúa tẻ, bằng dao nhíp (Hép) nếu là lúa nếp, lúa nương. Có hai cách bó lúa, một là bó thành cụm để trên xà nhà hoặc gác bếp hay cho vào bịch cách bó này do gặt bằng dao nhíp. Hai là bó thành lượm đặt ngay ngoài đồng trên chận rạ phơi khô mới đem đập, đồng bào trải cót đan bằng nứa xuống ruộng và đập lúa vào một chiếc “ Thùng gỗ vuông”  Đập lúa xong đồng bào quạt bớt thóc lép và trấu bằng cái mẹt được đan bằng tre và dung tay quạt rồi phơi khô rồi đổ vào bồ.
2.2. Chăn nuôi:
         Chăn nuôi gia súc chiếm vị trí thứ hai sau trồng trọt trong đời sống kinh tế của dân tộc Tày. Dân tộc Tày chăn nuôi chủ yếu Trâu, Ngựa, Lợn, Gà, Vịt…
         Con trâu rất cần thiết cho đời sống hàng ngày của dân tộc Tày như: Cày, bừa, kéo gỗ, cung cấp thịt và phân bón cho đồng ruộng. Trâu còn được coi là vật tế thần (cúng ma mường cho người đã chết). Mỗi nhà thường nuôi 2, 3 con, có khi 6, 7 con. Chuồng trâu bò ngày xưa để dưới gầm sàn, ngày nay bà con đã biết xây xa nhà để đảm bảo vệ sinh. Đồng bào có tục thả Trâu khi gặt, hái xong, họ thả trâu đeo mõ vào và thả lên khu rừng rộng, hay thả rông trên bãi từ nơi này đi nơi khác đến khi đến mùa cày, bừa thi mới đị tìm châu về đẻ phục vụ cho vụ mùa kế tiếp. Nay không còn thích hợp nữa vì đất đã bìa đỏ hộ quản lý, đồng bào quanh năm cày cấy vụ này tiếp vụ khác. Đồng bào còn hay nuôi ngựa để thồ hàng,và là phương tiện đị lại cho gia đình ngày nay đồng bào không còn nuôi nhiều  nữa vì đã có đường ô tô xe máy đi lại thuận tiện.
         Một yếu tố đặc sắc của văn hóa Tày là nuôi cá ruộng. Nếu ta thấy người Kinh khi làm nhà thường nghĩ tới việc đào ao thả cá, thì người Tày khi làm ruộng nghĩ cách nuôi cá ruộng. Ruộng cá thường để nước ngập 20 – 30 cm và tháo nước từ ruộng nọ sang ruộng kia cho lưu thông, nhệt độ nước vừa mức cá có thể sống được. Để tránh nắng to ruộng thường có hồ để cá trú. Đồng bào ươn cá chép ở ao nhỏ, từ khoảng tháng ba đến thắng năm âm lịch thì thả cá vào ruộng, đến tháng tám, tháng chín tháo ruộng bắt cá vào ao, lúc đó mỗi con cá nặng được từ 25 – 30g, nếu ruộng to nước sạch cá nặng tới 40 – 50g.
2.3. Nghề phụ gia đình và thủ công:
          Mặc dù trình độ phát triển của người Tày đã cao, nhưng do sống về nghề nông lại ở miền núi nên nghề thủ công chậm phát triển và vẫn chỉ nằm trong khung cảnh của nghề phụ gia đình. Ở vùng người Tày vẫn chưa có những làng, bản hoặc những gia đình chuyên làm nghề thủ công để sinh sống. Người dân tày chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp. Lúc rỗi rãi con trai đan lát, con gái dệt vải, đàn ông đan phên ngăn vách nhà, đan cót phơi thóc, lúa, một số đồ dùng hàng ngày như giỏ, thùng, đồ đánh cá, nón lá…..
          Đáng chú ý là nghề dệt vải. Ngày xưa người phụ nữ Tày tự dệt vải để làm quần áo và đám tang, thường nhà nào cũng có nương bông, các dụng cụ để kéo bông thành sợi, đáng ống, quay suốt. Khung cửi không có gì đặc biệt dệt vải bằng tay.
2.4. Hái lượm và săn bắn:
          Rừng rất thuận lợi cho việc kiếm thức ăn, vì vậy trong những năm đói kém đồng bào Tày chỉ sống khổ chứ không bao giờ chết đói. Rừng nuôi con người với nguồn lợi vô cùng của nó. Trong rừng có các thứ củ như củ mài, củ nâu, rau rớn, bắp bi chuối rừng, dùng ăn thay cơm. Từng mùa rừng cung cấp các loại rau như: rau cải dại, rau tàu bay, rau ngót dây…các loại cỏ dại, nấm mộc nhĩ, măng….
          Từ lâu săn bắn chỉ đóng vai trò thứ yếu trong đời sống của dân tộc Tày. Ngoài việc kiếm thức ăn đồng bào chủ yếu đi săn để bảo vệ mùa màng, có hai loại săn bắn, một là săn bắn tập thể, hai là săn cá nhân.
           Săn bắn tập thể thường từ 10 đến 15 người, người tày xã Niêm Sơn theo quy định ai bắn được con vật mà tập thể đang săn thi được chia 1 cái đùi của con vật, 4 cái chân và một phần thị đùi, phần thịt còn lại là chia cho các thành viên tham gia săn trong buổi hôm đó.
2.5. Cách làm ăn và phân công lao động
          Thường trọng việc làm ăn như làm ruộng, đánh cá, săn bắn đồng bào có tập quán giúp nhau. Trong việc làm thường có hình thức trao đổi công như: Cày, bừa, cấy, gặt hái…lần lượt hết ruộng của nhà này đến nhà khác. Chủ nhà phải cho người đến giúp ăn một bữa cơm có rượu, thịt. Hộ giúp việc làm nương hay làm nhà..đồng bào cũng thường giúp nhau dựa trên người cùng bản, cùng làng, cùng giòng họ.
           Ngày xưa trong lao động của dân tộc Tày có sự phân công theo giới và theo lứa tuổi. Công việc đàn ông và trẻ em trai chặt cây phát nương, trông non rẫy, cày bừa, đáp mương phai, chăn trâu, đan lát… Công việc đàn bà và trẻ em gái. Nhổ mạ, làm vườn,trông nom vườn rau, cấy, gặt lúa, trông nom gia súc, trông nom cơm nước, lấy nước, giã gạo, thổi cơm, kiếm rau…trồng bông, dệt vải, may vá, nuôi con.
3. Văn hóa vật chất
3.1. Làng và nhà cửa
* Làng
          Dân tộc Tày chủ yếu sống về nghề nông nghiệp, làm ruộng nước, nên đã định canh định cư thành bản. Bản thường dựng trên những khu đất chạy ven chân đồi, trên các vò hay mô đất thấp bên cạnh những khu rừng có nhiều lâm thổ sản, ở những nơi quang đãng. Đôi khi nếu vì thiếu ruộng, người Tày phải tạm làm nương rẫy hay ruộng bặc thang thì bản làng của họ thường ẩn sâu vào những nơi tương đối hẻo lánh.
   
          Mỗi bản có tên gọi riêng, tên bản thường theo tên đất, tên ruộng, tên suối, thú vật…có tên bản đặt theo truyền thống địa phương.
          Nhà cửa trong bản thường tập trung xếp đặt không theo hàng lối mà theo thế đất một cách tùy tiện, các nhà thường xếp đặt theo một chiều, đầu mái nhà nọ liền với mái nhà kia, có đường đi lại nối liền từ nhà này sang nhà khác.
          Mỗi bản đều có danh giới riêng, thường được quy định theo hình thể đất có khu rừng, ruộng đất, bãi cỏ, bãi tha ma riêng của bản mình.
* Nhà cửa
          Nhà sàn gỗ là loại hình phổ biến nhất, nhà sàn gỗ có các loại sơ sài bằng tre, gỗ lợp lá cọ, vách nứa, cột chôn thẳng xuống đất, đó là kiểu nhà sàn cổ nhất. Có loại làm kĩ lưỡng hơn, sàn, vách làm toàn bằng gỗ, cột kê trên đá tảng nên gọi là nhà sàn kê, lợp bằng lá cọ, nhưng sàn thường làm bằng cây tre mai già vừa đẹp vừa sạch sẽ. Nhà gỗ thường được xây dựng quy mô khá lớn, phổ biến kiểu hai mái. Nhà trung bình 4 gian 20 cột, nhà to 4 đến 5 gian trên 16, 24 cột, dài 18 – 20 mét. Nhà sàn gôc cổ truyền người tày là loại nhà tổng hợp, từ sân phơi ra tất cả các bộ phận nhà cửa dùng vào việc sinh hoạt…Thông thường người ta lên nhà bằng cầu thang ở trước cửa, cầu thang thường làm bặc lẻ 7, 9, 11, bặc. còn thanh bặc chẵn dành cho ma lên xuống. Ở chân cầu thang luôn có một máng nước và một chiếc gáo con kê mấy hòn đá để khách rửa chân trước khi lên nhà.
          Mỗi nhà ít nhất có một vườn rau gia đình ngay bên nhà, nhà có hai tầng; dưới đất , trên sàn. Trên sàn rất ít vách ngăn nên nhà rất rộng xong được chia thành hai gian lớn. Gian dành cho nam giới ở đầu nhà, gian này có nơi thờ tổ tiên, là nơi ngủ của người con trưởng, là nơi ngủ của khách nam giới. Chính giữa có bếp lửa là nơi sinh hoạt của gia đình, nơi nấu ăn, tiếp khách. Gian dành cho nữ giới và phụ nữ có chồng ở phía của chính cạnh cầu thang lên xuống, từ tầng dưới đất lên chạn bát chỗ để nồi nêu, xong chảo…
3.2. Trang phục
          Trang phục của người Tày cơ bản là giống nhau, trang phục đàn ông thường đơn giản, ít giữ được trang phục của dân tộc. Trang phục của nữ giới đặc sắc hơn. Đàn ông Tày thường mặc áo cộc sẻ ngực với hàng khuy cài bằng cúc, trong ngày hội đàn ông thường đội khăn xếp màu đen. Trang phục của nữ giớ đơn giản mà đẹp đẽ, bình thường phụ nữ Tày mặc áo ngắn có tay và mổ ngực cài một hàng khuy đẹp, áo mang xít vào thân, làm nổi bật các đường nét của thân hình. Khi hội hè, lễ tết, đám cưới, tang ma phụ nữ Tày mặc áo dài xẻ nách, kiểu áo cổ nhất là áo dài đen rộng, dài đến mắt cá chân, áo có những đường viền thêu dọc theo nếp và tà áo.
          Nói chung phụ nữ Tày đều mặc váy đen dài tới bắp chân, có thắt lưng ra ngoài và kéo mép áo phủ lên trên. Vì vậy thường giữa váy và áo ngắn có khe hở ở bụng, nay đã có nhiều cải tiến bằng cách may áo dài hơn nên che kín cả thân.
          Trang sức của phụ nữ Tày không cần cầu kỳ mà đẹp, hợp với phong cách miền núi, màu sắc sử dụng khéo, màu chàm, xanh hay đen rất thích hợp với rừng núi. Trên mép áo dài có những hình thêu rất đẹp, những đường thêu khéo mang phong cách của người dân tộc Tày.
          Đồ trang sức thường giống các dân tộc láng giềng gồm có: hoa tai, vòng cổ, vòng tay, nhẫn, đeo xà tích. Đồ trang sức đơn giản có hoa văn phong phú làm bằng bạc hay mạ vàng.
3.3. Ăn uống
          Thức ăn chính của dân tộc Tày là cơm nếp, khi thiếu cơm thường hay ăn ngô, khoai, sắn hay các thứ củ trong rừng như: củ mài, củ nâu…Xưa không ưa ăn cơn tẻ, ngoài cơm là rau và cá ăn thịt nhưng số lượng không nhiều. Dân tộc Tày thường ăn hai bữa cơm chính và một bữa cơm phụ vào buổi sáng trước khi đi làm đồng, trong bữa ăn trẻ em được chiều chuộng, thường được bố mẹ nhường cho miếng ăn ngon, người già cũng thường được chiều chuộng. Đồng bào rất thích ăn thịt trâu và thịt thú rừng, ếch, nhái, tôm, cua…nhiều loại côn trùng cũng được ưu thích như: ong non, trứng kiến…
           
          Dân tộc Tày thường ít ăn luộc, thức ăn thường hay xào với mỡ hoặc rang với muối. Vì vậy mỗi nhà thường dự trữ mỡ nước, thịt để lâu thường được ướp muối đựng trong ống tre, nứa để chua ăn rất thơm ngon.
          Rất thích ăn chua: canh măng chua với thịt, cá hay các con côn trùng…họ thích ăn cả gỏi cá sống, ăn táp tức là ăn thịt tái trộn với nước chua nhất là thịt trâu, ăn tiết canh lợn, vịt, trâu, bò, hươu, nai…Khi ăn thường khèm với các gia vị có chất cay như: giềng, ớt, củ xả…hay đồ chua như: chanh, nước muỗm và rau sống.
          Trong ngày tết gói bánh và phổ biến nhất là bánh trưng. Đồng bào không dùng hoa quả vào việc cúng lễ.
          Việc khiêng kị trong ăn uống: Thầy cúng, thầy mo kiêng ăn các loại động vật có chưa, chết, kiêng thịt chó.
          Đồ uống và đồ hút, trầu cau:
          Trước kia dân tộc Tày thường uống nước lã, nay phổ biến là nước đun sôi. Sau những buổi làm việc mệt nhọc, khi tiếp khách, hội hè, cúng bái, cưới xin…đồng bào hay uống nước trắng làm bằng gạo, có khi làm bằng ngô, sắn hay các thứ củ trong rừng. Men rượu đồng bào thường tự làm, giã nhỏ các loại lá trong rừng làm men trộn với gạo nếp giã mịn sau đó nặn thành từng viên nhỏ bọc trấu bên ngoài, đem ủ từ 5, 6 hôm là thành men. Ngoài rượu trắng đồng bào còn dùng rượu nếp “lảu nọong” , rượu hoẵng, muốm làm được rượu hoẵng đồng bào ngâm gạo nếp rồi đồ lên, khi chín đổ ra mâm cho nguội rồi trộn men, tùy lượng cơm nhiều hay ít để rắc men, cho vào nồi ủ 4 đến 5 hôm thấy mùi thơm ngậy đổ nước vào sau 10 ngày là uống được. Rượu càng để lâu càng say và ngon hơn, có nhà để trên gác bếp 2 đến 3 năm nước rượu như rượu trắng, đây là loại rượu cổ nhất của người tày.
          Thường hay hút thuốc lào được bày bán phổ biến ở ngoài, điếu thường là điếu cày, điếu dài, ống to, có nhiều nước nên hút nhẹ.
          Phụ nữ Tày xưa hay ăn trầu cau, những ngày lễ, ngày tết, ngày hội khách đến nhà họ chào nhau bằng miếng trầu, mỗi phụ nữ tự khâu làm túi trầu cau, vỏ ăn trầu “thạ khoái”, hộp nhỏ đựng thuốc lào, đựng vôi gọi là “thống ngầu” rất xinh xắn. Trầu cau còn được dùng vào việc cưới xin, ma chay, cúng bái…
3.4. Phương tiện đi lại
Để liên lạc từ vùng này sang vùng khác, người Tày thường tìm ra đường xuyên qua rừng, ven suối hoặc các thung lũng trong núi, vượt qua các đèo cao. Đường thường phải qua nhiều sông, suối nên ngay từ xưa đồng bào đã biết dùng bè hoặc mảng để đưa người qua sông hoặc chở dọc theo dòng suối, bè thường được làm bằng 15 hay 20 cây nứa ghép lại có một người điều khiển bằng chống sào.
4. Tình hình xã hội, dòng họ, gia đình và hôn nhân
4.1.Tình hình xã hội
          Mỗi lãnh địa có một danh giới nhất định, do chúa đất quy định, theo truyền thuyết nhà chúa đất “pu chảu đín” có bộ máy cai trị, có bộ luật, có các nghi lễ phong tục riêng.
          Chế độ ruộng đất: Chúa đất trong lãnh địa thường phân chia theo đơn vị bản, đơn vị chia ruộng đất là bản nên có bản nhiều ruộng, bản ít ruộng, ruộng chia theo từng nóc nhà.
          Các giai cấp trong xã hội: Xưa dân tộc Tày có chế độ giai cấp, chúa đất cai quản mường Tày, chúa đất thuộc một dòng họ nhất định cha truyền con nối, chúa đất được tượng trưng là quyền lực tối cao của toàn thể bản mường. Khái niệm “mường” và “chúa đất” được coi như độc nhất “muốn lập mường phải có ta” chúa có mạnh thì mường mới vững.
          Quyền của chúa đất: Tất cả đất đai ruộng nương, sông suối, con người, muôn thú, cây cỏ đều thuộc về chúa cai quản, người làm ruộng phải nộp tô, săn bắn, đánh cá, đấm cưới phải biếu chúa. Ngày nay chế độ này không còn nữa.
          Chúa đất cầm đầu bộ máy thống trị về các mặt quân sự, kinh tế, văn hóa, tôn giáo. Khi thời bình họ là người đại diện cho bản mường, họ là người đại diện cho toàn thể nhân dân trước thần linh, ma quỷ.
4.2. Quan hệ dòng họ, gia đình, hôn nhân.
          Dòng họ: Dân tộc Tày các dòng họ ở chung một bản, những người trong một dòng họ giữ được quan hệ với nhau nơi chặt, nơi lỏng do trong quá trình phát triển của dòng họ, người trong một họ thường bị phân hóa đến chỗ xa lạ với nhau.
          Mỗi dòng họ gồm nhiều tộc, mỗi tộc khoảng 30 gia đình sinh sống, thường giữ lại một truyền thuyết về nguồn gốc hay về ông tổ chung. Đứng đầu thường là người già nhất trong trưởng ngành.
          Gia đình: Mỗi tông tộc bao gồm nhiều đại gia đình và tiểu gia đình, mỗi bản thường có 2, 3 đại gia đình còn lại là tiểu gia đình. Những đại gia đình gồm đến ba thế hệ sống với nhau, chung một góc nhà hoặc chung một khu riêng. Thành viên ở trong đại gia đình giữ tính chất phụ quyền, người cha đứng đầu lãnh trách nhiệm lãnh đạo cả gia đình, hòa giả những xích mích về kinh tế, sinh hoạt, chỉ đạo việc làm ăn, việc cúng lễ, việc tổ chức cưới xin, ma chay, thay mặt cho gia đình trước bản mường.
          Trong đại gia đình, chú bác coi con anh, con em mình như con đẻ, nếu ai không có con trai thường xin con anh em mình về làm con nuôi, nếu cha chết con coi bác nội, chú nội như cha.
          Tiểu gia đình là hình thức phổ biến của dân tộc Tày, quyền hành tập chung vào người cha và người chồng, người phụ nữ thường ở địa vị nội trợ.
          Hôn nhân: Đặc tính của đồng bào Tày là hôn nhân phụ quyền, gia trưởng, việc dựng vợ gả chồng thường theo quyết định của hai bên gia đình, đặc biệt là những người già.
          Hôn nhân với người Tày là hôn nhân ngoại tộc, người trong một dòng họ không được lấy nhau, những ai vi phạm bị trị tội nặng, gia đình cũng bị vạ lây và phải làm lễ giải tội với trời đất.
          Ngày nay, đã có sự thay đổi trong quan hệ hôn nhân trai gái được hưởng chế độ hôn nhân tự do, tiến bộ, một vợ, một chồng, nam nữ bình đẳng. Luật Hôn nhân và Gia đình là cơ sở chắc chắn cho việc xây dựng quan hệ hôn nhân mới đó là tình yêu thương lẫn nhau giữa người con trai và người con gái, những tàn tích phong kiến và những dư tàn hôn nhân nguyên thủy bị xóa bỏ.
5. Các tục lệ truyền thống của dân tộc Tày
5.1. Cưới xin
          Cưới xin là một hình thái sinh hoạt tinh thần của đồng bào Tày, trong đó lưu lại không ít những nét cổ truyền của dân tộc.
          Tục cưới xin theo các trình tự sau: đi dạm, ăn hỏi và đám cưới.
          Đi dạm: Khi con trai đến tuổi trưởng thàng bố mẹ nghĩ đến việc tìm vợ cho con, khi chon con dâu ngoài tiêu chuẩn môn đăng hộ đối họ còn để ý đến tính nết, sức lao động, sắc đẹp của người con gái. Ngược lại bên nhà gái họ cũng chọn người con rể tài giỏi, biết săn bắn, đánh cá, biết làm việc họ mới gả con gái cho.Và thường nhừ bà mai mối đến hỏi và được sự thống nhất của nhà gái. Nhà trai chọn ngày lành tháng tốt nhà trai mang lễ sang gồm: trầu cau, bánh trưng, riệu 1 đôi gà và 8 chiếc bánh dày gọi là lễ dạm ngõ.
          Đi hỏi “thám khát”: Đây là lễ dạm hỏi chính thức của dân tộc Tày, họ xem ngày lành tháng tốt, không phải tháng xung kỵ của đôi trai gái, thường chon ngày chẵn. Bên nhà trai một bà mối “dà khưới”  có con cái, biết ăn nói. Trong gia đình nội tộc cử 4 người một trai và 4 người gái mang lễ đến gia đình nhà gái. Lễ vật gồm: gà 2 đôi, bánh dày 16 chiếc, 40 kg gạo, 66 tấm mía, một con lợ, 5 lít rượu. Bên nhà gái cũng mời một đại diện cùng họ vì vậy nhà gái thường mời nội, ngoại, họ hàng của bố đến dự lễ chính thức. Sau buổi lễ đôi trai gái coi nhau như pậu khưới tức là đã được hàng xóm công nhận là vợ chồng, nếu không may một bên qua đời khi chưa cưới coi như “ mải bóoc” tức là “góa hoa” có nghĩa hai người chưa được chung chăn gối.
          Đám cưới: Dân tộc Tày thường có tục sau lễ ăn hỏi phải ba năm sau đôi trai, gái mới được tổ chức lễ cưới, và hàng năm đến ngày tết gia đình nhà trai đều phải mang lễ đến nhà gái để tỏ lòng thành của gia đình nhà trai.
          Thời gian cưới của người Tày kéo dài nhiều năm, khi nhà trai có đủ điều kiện về kinh tế mới cưới chính thức “dệt biểu” thường phải có các lễ sau: lợn nếu nhà khá thì phải 2 con gọi là “hám” “khêng”, nếu bình thường một con gọi là “hám” “gánh”. Các lễ vật khèm theo gà 5 đôi, 40 kg gạo cũng gói bằng lá chuối, đan một chiếc sọt nhỏ lót lá cho xôi nếp nén chặt buộc bằng lạt giang nhuộm màu. 1 gói trầu 42 lá, 1 gói cau 42 quả buộc bằng lạt màu cho vào một đôi sọt, đại diện bên ngoại nhà trai gánh, còn chiếc sọt đựng cơm xôi cho ông mối đeo, lễ này là quan trong nhất khi đến nhà gái. Đại diện bên họ nhà gái con cháu bày lễ lên mâm đưa vào nơi thờ cúng báo tổ tiên biết và cất vào nơi sang trọng nhất, chiếc sọt đựng xôi đưa cho các cô gái mở ra và gói và 5 gói nhỏ để cúng lễ, ngoài ra còn có 40kg gạo, một bình rượu trắng khoảng 5 lít, gạo được cho vào hai đôi sọt gánh, đòn gánh được trang trí hoa văn rất đẹp. lễ cưới thường được tổ chức vào mùa xuân, mùa thu hay mùa đông. Khi chọn được ngày lành tháng tốt, nhà trai đưa lễ đến nhà gái, đoàn đi gồm hai pu khưới, một bên nhà trai, một bên ngoại nhà trai và 6 người khiêng lợn, gà… Tới chân cầu thang nhà gái, họ bị nhà gái đứng chặn mời uống rượu song mới cho vào nhà. Sau khi làm lễ chào hỏi cúng “ khảu bén, khảu lèng” xong lễ cúng tổ tiên được tiến hành gồm 5 mâm lễ có thịt, 5 gói cơm gói từ sọt, rượu mỗi mâm 1 chai. Nội dung cúng bão lễ cho tổ tiên biết và làm chứng cho hai người thành vợ chồng chính thức, cầu mong tổ tiên phù hộ cho hai vợ chồng sống trăm năm hạnh phúc, phú quý…rồi mời hai vợ chồng đến trước thầy cúng để dặn dò và giao quyền cho hai vợ chồng, từ nay hai người sẽ thành vợ chồng chính thức, thay mặt cha mẹ bên nhà chồng đảm nhiêm công việc trong gia đình, dòng tộc, họ tộc đến làng xóm, láng giềng và mọi việc trọng xã hôi. Đến hôm sau ăn trưa song hai vợ chồng cùng nhau về nhà chồng, từ đó trở đi hàng năm đến ngày tết nhà trai phải đi tết nhà gái 1 đôi gà và 8 chiếc bánh dày, 5 lít rượu.
          Hiện nay trình tự đám cưới vẫn giữ như cũ nhưng đơn giản hơn nhiều, trai gái được quyền quyết định hôn nhân, thời kỳ giảm hỏi được rút ngắn, chi tiêu cho đám cưới được giảm nhẹ phù hợp với nội dung đám cưới, phù hợp với luật hôn nhân và gia đình.
5.2. Sinh đẻ và nuôi con
          Ngày xưa do đời sống khổ cực, trình độ kém hiểu biết, điều kiện ăn ở thiếu thốn nên đồng bào khi sinh nở mong sao được mẹ tròn con vuông trong hoàn cảnh không có y tế như ngày nay nên họ chỉ biết tin vào mê tín dị đoan. Người phụ nữ có mang vẫn phải làm việc bình thường, có một số tục kiêng kỵ sau: kiêng đánh rắn vì sợ sau khi sinh con thè lè lưới như rắn, keeng ăn thịt ba chỉ vì sợ con trai khi sinh ra bộ phận sinh dục không mọc ra được, trong suốt thời kỳ có mang người phụ nữ kiêng hái quả vì sợ làm cho hoa quả rụng, lép đi.
          Người phụ nữ Tày  Sau khi đẻ xong đứa trẻ được cắt rốn và được tắm rửa sạch sẽ, còn chiếu rau bỏ vào ống tre để cạnh gốc cây khuất nhất ít người qua lại, không đổ nếu đổ đứa trẻ sẽ khóc đêm nhiều. người đẻ thường chỉ ăn sôi với thịt gà xôi thường được nấu hoặc đò với nghệ và rau xanh gọi là “cắm bướn”.. Người mẹ sinh con đầu lòng được đầy tháng hoặc ba tháng được bà ngoại làm cho cháu chiếc địu, chiếc chăn nhỏ để địu con.
          Người Tày thường tổ chức lễ đặt tên cho con khi tròn một tháng tuổi, đến khi đứa bé tròn một tháng tuổi nhà ngoại mang nôi, chăn, chiếu, quần áo địu đến nhà nội và nhà nội chuẩn bị một mâm cơ đẻ đón nhad ngoại trong quá trình ăn uống hai bên thông gia xẽ đưa ra quyết định đặt gi cho đứa trẻ.
          Trẻ em lớn lên nhờ sữa mẹ, mẹ cạn sữa thì mớm cơm sống trọng hoàn cảnh khó khăn nên hay bị ốm đau, chết yểu. chính vì vậy nên đồng bào lo sợ, tin vào mê tín dị đoan, họ hay xin người đỡ đầu, làm con nuôi, buộc cổ tay cho sợi chỉ “thái khoăn” vòng vía để tránh ma quỷ làm hại con.
          Hiện nay tình hình sinh đẻ và nuôi con đã khác hẳn, phụ nữ có thai được chăm sóc, sinh nở có y, bác sỹ, hộ sinh phục vụ chu đáo, khi con lớn được đến trường.
5.3. Làm nhà mới
          Dựng nhà mới là một sự kiện quan trọng trọng đời sống của dân tộc Tày, dựng nhà mới liên quan tới việc xây thêm một tiểu gia đình trong dòng họ. Dựng nhà mới là việc của đàn ông trong bản, trai làng ai cũng biết làm nhà, ít phải mướn thợ. Muốn làm nhà phải chọn ngày , trong việc làm nhà đồng hết sức chú ý đến việc chọn đất, có câu tục ngữ nghĩa là “làm ăn được thì nhờ mồ mả, làm ăn thong thả thì nhờ đất nhà”. Chọn đất xong người ta lại chon năm để làm nhà, nghĩa là chọn năm nào không xung khắc với tuổi của chủ nhà. Ngày ăn mừng nhà mới thường cũng là ngày làm lễ dọn vào nhà mới ở, người ta chất một đống củi khô giữa bếp, chọn một người họ ngoại có tư cách đạo đức tốt, làm ăn sản xuất giỏi, có con ngày tháng năm sinh không trùng với chủ nhà làm “pu cảu thườn” nghĩa là chủ nhà mới. Cầm một bó đuốc tiến qua cầu thang đến châm lửa vào đống củi thanh khô, sao đó vợ chồng chủ nhà cùng con cháu gánh một số đồ tượng trưng vào nhà mới, tiếp đó mang thóc tương trưng đặt lên gác thể hiện sự ấm no, hanh phúc. Chủ nhà cố giữ lửa trong nhà ba ngày không tắt, cuối cùng chủ nhà cúng ma nhà, cúng thổ công, thổ địa. chủ nhà làm một bữa cơm thịnh soạn mừng nhà mới, bạn bè thân thích đem quà đến mừng nhà mới.
5.4. Ma chay
          Trước kia người Tày tin ở thuyết có linh hồn cho rằng linh hồn cha mẹ, người thân sau khi chết sang thế giới bên kia cũng ăn ở, sinh hoạt như người sống, khi gia đình có người chết cần chuẩn bị cho họ đầy dủ tất cả mọi thứ cần thiết để tiếp tục sống một cách sung túc với họ hàng, tổ tiên sau khi chết. Trước cái chết họ phân biệt chết già là cái chết sung túc nhất, chết tai nạn, dịch bệnh,ốm đau, lúc trẻ là cái chết bất hạnh.
          Họ quan niệm một khi nhà có người chết, ma quỷ hoành hành trong nhà,không khí chết chóc ngự trị, cái sống tạn thời bị chèn ép, nếu không giữ ý ma quỷ có thể bắt người thân thích đi theo người đã mất.
          Xuất phát từ quan điểm trên, đồng bào cho rằng nhiệm vụ làm con phải lo việc ma chay chu đáo cho cha mẹ, cho đó là hình thức báo hiếu quan trọng nhất. vì vậy sinh ra những nghi lễ ma chay phức tạp.
          Xưa kia tổ chức ma chay thường kéo dài ba ngày ba đêm, còn ngày nay chỉ một ngày đêm là xong nghi lễ nhưng vẫn đầy đủ nội dung.
          Khi người chết tắt thở, người nhà báo tin cho họ hàng biết, ngày xưa còn gõ mõ, hoặc bắn 3 phát sung lên trời ý báo cho bản mường và xua đuổi ma dữ không cho vào nhà. Trong lúc đó con cháu chạy báo tin cho từng nhà, họ hàng, con cháu bắt đầu khóc khi đã đông đủ, con trai cả làm lễ tắm rửa, khâm liệm, mặc quần áo, khâm liệm bằng vải phủ lên người chết, dùng vải thắt thành 7 nút đối với nữ, 5 nút đối với nam. Sau đó phải bỏ tiền xu vào mồm nhằm cho nặng miệng không nói những việc ở trần gian khi sống ở thế giới bên kia, sợ nếu nói ra con cháu sẽ bị ốm đau. Lấy giấy trắng để che mặt người chết, anh em, làng xóm chuẩn bị quan tài, quan tài là cây gỗ đục, người con trai cả lấy tấm vải trắng, miếng trầu gói vuông vắn khấn xin hồn người chết, rồi mổ con gà làm lễ nhập quan, sau đó họp bàn dự kiến đón thầy mo, người cúng đằng bên nội, bên ngoại, cả con gái, con rể chầu trực. Người phụ trách bếp núc, gạo nước kèm theo đó là sửa nhà như cơi nới nấu nướng, chằng chống nơi dễ đổ gẫy, đan sọt, vót đũa, đan mâm bằng tre…chuẩn bị hôm sau làm lễ chính thức.
          Phần lễ gồm các nghi lễ sau: Trong buổi tang lễ gồm 5 bộ phận chính gia đình, họ hàng, thầy mo, thầy then. Gia đình dòng họ người chết là chủ trì công việc trong đám tang, thầy mo đảm nhiệm các nghi lễ nhằm báo cho tổ tiên về đón người chết về trời, tổ chức tiễn đưa người chết và chuẩn bị cho người chết về nơi ở mới. Giám khảo điều khiển các bước trong đám ma, thầy then sau khi đưa đám hạ huyệt đến đón hồn người chết từ mồ mả đến nhà trao lễ vật rồi đưa về  trời, xua đuổi các loại ma quỷ thường ở lại quấy nhiễu.
          Các bước tiến hành như sau:
          Bước 1: Lên đám
          Sau khi thầy cúng (bân tang lễ) mời cơm song thầy mo và cúng đón hồn người chết từ nậm tào “sông rồng qua các chặng đường đến với con cháu. Thầy cúng gọi đội khèn. Đội khèn tiến hành các bước trong đám tang: Trao lễ vật “thẻo khảu vúa”, dâng hương “đậm hướng”, lễ chào các chức dịch người sống “pắt chàu”. Thầy mo làm lễ “pao pủy ầu ngài” tức là lễ dâng cơm sáng,trưa,tối lễ gồm cơm rượu gà chỉ lấy chân và cánh, con trai cả dâng bữa sáng.
          Bước 2: (ngày xưa là đêm thứ 2) Lễ đại tang “đẳng thượng”
          Thầy mo chủ trì cúng các bài truyền thuyết từ khi lọt lòng mẹ cho đến chết, chuện đẻ đất đẻ nước, nguồn gốc loài người, các loại thú, người sáng lập ra đám ma “ cá mành, mạnh tổ” tức ông mảnh tổ đó là bản trường ca hấp dẫn giúp người nghe biết ơn người chết. lễ trao đại gia súc cho người chết (con trâu), ngày này có thể thay bằng lợn. Sau khi thầy mo cúng đón trâu từ nậm trò “sông hồng” qua các chặng đường về đến nhà giao cho con trai cả cúng, con cái trong gia đình, dòng họ có trâu cho người thân về với tổ tiên làm ăn sinh sống.
          Lễ trao trâu: con trai buộc trâu vào dưới quan tài gầm sàn, họ buộc sợi chỉ vào đông tiền luồn xuống cột trâu, đầu này đặt ngang bàn tay người chết trên quan tài,người con trai cầm đèn, nến  xuống gầm sàn nơi buộc trâu chết trao cho người chết. cúng trao song và rặn rằng “người xin đừng cho, mua đừng bán” đem đến tổ tiên làm ăn sinh sống. Sau đó thầy cúng đánh 1 hồi 3 tiếng chiêng gọi mang trâu đi mổ, mổ song lấy sương bả vai, chân trước cho thầy mo giao tương trưng cho người chết. Đây là lễ quan trọng nhất trong đám tang.
          Bước 3: Lễ hạ tang
          Thầy cúng đánh 3 hồi 9 tiếng  chiêng báo con cháu nội, ngoại, con gái, con rể đứng dậy mặc trang phục, thường con trai, con gái mặc trang phục mầu trắng toàn bộ, con dâu mặc váy đen, áo dài đen, khăn trắng, con rể mặc tùy ý không bắt buộc. Mời đội khèn đến thổi bài hạ tang, xong mời một người ngoài họ mở màn “kháy pá” kể lại công lao nuôi nấng, chăm sóc đến lúc già yếu, đau ốm, qua đời được con cháu báo đáp bằng đạo hiếu.
          Đội khèn cử người làm lễ đưa hồn người chết về cõi vĩnh hằng.
          Bước quan trọng thời gian dài nhất là khi thầy mo vào cúng: chia cho hồn trú ngụ ở mường mà phần tài sản của người chết vì ở đó hồn sống như khi trần gian. Các thứ chia gồm: nhà cửa, quần áo, nông cụ, tiền bạc, ấm chém….
          Tiếp đến thầy mo đại diện cho linh hồn người chết nhắn nhủ con cháu nội ngoại, người thân, họ hàng, làng xóm trước khi thầy mo đưa linh hồn người chết về với tổ tiên. Người xưa quan niệm sau khi chết hồn ở 4 nơi đó là ở với tổ tiên, ở với trời, ở ngoài hành tinh, ở bãi tha ma. Tiếp đến làm lễ dẫn đường thầy mo đọc các bài dẫn, từng loại đường đi 4 nơi “mó thông” gồm: hồn ở với tổ tiên khỏi phải đưa, hồn lên niếm bàn mường trời” đẳm bốn” đưa theo đường bộ lên trời, hồn đi ngoài hành tinh “đẳm muồng ốm mường ái nọ phạ” đi đường thủy, tiếp tục nối đoạn đường bộ với đoạn ngoài hành tinh, hồn ra mồ mả tùy mả gần hay mả xa để đưa linh hồn. đáng chú ý là đưa linh hồn người chết đến nơi thì lại thu hết linh hồn người sống theo thầy mo về nhà và đường về nhà, đường về nhà lại phải ngược với đường đưa người chết đi.
          Lễ đưa đám: sau khi thầy mo làm lễ dẫn đường song, con cháu trong nhà cùng họ hàng đưa quan tài ra kiệu đã chuẩn bị sẵn từ ngày hôm trước.
          Lễ hạ huyệt: Khi đưa quan tài tới huyệt con cháu mỗi người cầm nắm đất phủ lên quan tài gọi là lễ phủ mặt cho người thân “pốc mả” sau đo lấp đất. chôn hai hòn đá dài ở hai đầu mộ gọi là bia mộ, ngày nay con cháu làm bằng xi măng có khắc tên, hưởng thọ, ngày tháng an táng, rào xung quanh bằng tre đan đơn giản, tiếp đó cắm nhà mồ đã chuẩn bị từ trước, nhà mồ làm bằng cây cột đục thành hai mái như mái nhà sàn cổ của người Tày, nam lợp 7 lá cọ, nữ lợp 9 lá cọ. Các loại được phân cho người chết để hết trên mồ, sau ba ngày người con tai cả cùng con cháu trong nhà đến thăm mồ nếu thấy còn nguyên vẹn là mồ yên, mả đẹp con cháu phát tài. Từ đó trở đi mộ để hoang không có tục tảo mộ như các dân tộc khác, người Tày cho rằng hồn người chết ở mộ, thầy then đón về đưa lên cõi niết bàn “ mường then” chỉ còn lại cái xác không hồn.
          Lễ thầy then đưa hồn: gia đình tiếp tục đón thầy then đến làm lễ đón hồn từ mồ mả đến ngòi nậm. lễ goomg các đồ vật sau: chăn, quần áo, túi gai, dây dao…rồi đưa linh hồn lên niết bàn.
          Hiện nay đám ma của người Tày đã tổ chức đơn giản hơn nhiều, chi phí bằng 1/10 trước kia, nhiều nghi lễ được bãi bỏ, nhưng các giai đoạn tang lễ vẫn còn nguyên vẹn, ý nghĩa cũng không thay đổi.
6. Tín ngưỡng, tôn giáo, nghi lễ
          Hình thái tôn giáo chính thống để duy trì trật tự xã hội của dân Tày là việc thờ cúng trời đất, bản làng sùng bái vua chúa và việc thờ cúng tổ tiên đồng thời các nghi lễ liên quan tới việc sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh hình thái tôn giáo chính thống, còn tồn tại không ít yếu tố tôn giáo nguyên thủy như tàn dư ma thuật làm hại người, tín ngưỡng liên quan tới việc chữa bệnh, ý niệm về sự chết và tồn tại của thế giới vô hình.
6.1. Thờ cúng trời đất
          Do sống bằng nghề nông nghiệp, trong điều kiện còn phụ thuộc vào thiên nhiên và khí hậu. Người Tày tin rằng trong thiên nhiên có những lực lượng siêu nhiên quyết định số phận của họ. Họ tin rằng trời đất có bụt “pụt” là đấng sáng tạo ra trời đất, loài người và vạn vật. số phận của con người dưới trần gian là do “pụt” đứng đầu và quyết định. Ngoài các vị thần trên trời họ còn tin ở bất kỳ nơi nào: đồi núi, đất đai, sông ngòi…đều có các “ma”, “phí” cai quản. Nên khi muốn lập bản, phát nương, khai phá ruộng, muốn đánh cá đều phải xin các “phí” cho phép.
6.2. Thờ cúng tổ tiên
          Nếu như việc cúng trời đất, bản mường có tác dụng trọng phạm vi xã hội thì việc thờ cúng tổ tiên nhằm củng cố trật tự trong phạm vị gia đình. Trước hết cùng cố mối liên kết ruột thịt giữa những người cùng máu mủ “một giọt máu đào hơn ao nước lã”.
Mỗi gia đình đều nhớ rất kĩ lịch sử nguồn gốc của gia đình họ công đức ông cha đối với gia đình, đối với xã hội “kín khảu mì lừm thu, đây du mì lừm cống”. Người Tày có nơi thờ cúng tổ tiên riêng của toàn tông tộc hay của gia đình. Người Tày thờ cúng tổ tiên ở góc nhà “chộc đẳm” cạnh nơi chủ nhà ngủ đó là nơi thờ người cha, người mẹ đã khuất của gia đình gọi là “ phí thườn” tức là ma nhà, ma nhà săn sóc đến số phận của gia đình.
6.3. Nghi lễ tín ngưỡng liên quan đến sản xuất
          Sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp từ xưa người Tày có nhiều nghi lễ và tín ngưỡng nhằm cầu xin trời đất bảo vệ mùa màng, khi vào xuân ở vùng dân tộc Tày tổ chức cúng, cúng bản. Trong các vị thần được cúng: thần suối, thần rừng, thần thổ địa…
          Cày bừa, cấy xong đồng bào làm lễ cúng nhỏ, cúng ma ruộng và hồn lúa “mó bai mà”. Đặc biệt cần chú ý lễ cơm mới khi lúa bắt đầu chín, gia chủ hái vài lượm treo trên vách mời tổ tiên chứng giám, sau khi thổi cơm mới mời tổ tiên, họ hàng đến ăn mừng.
7. Văn học nghệ thuật
          Người Tày có vốn văn học nghệ thuật dân gian rất phong phú, những câu chuyện, bài ca, lúc đầu có thể do một người nào đó sáng tác ra, sau truyền lại qua thế hệ này đến thế hệ khác, được thêm thắt, trau chuốt thành những câu truyện truyền miệng hay những bài ca đầy tính dân tộc.
7.1. Văn học dân gian
          Bao gồm tục ngữ, câu đố, chuyện kể dân gian, thơ ca dân gian đó là đáng lưu ý nhất của dân tộc Tày còn giữ được phong thái riêng của dân tộc mình. Dưới đâu nói về truyện kể dân gian và thơ ca dân gian.
* Truyện kể dân gian
          Bao gồm: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười phản ánh những kía cạnh của đồng bào trong lao động, sản xuất, trong đấu tranh chống thiên nhiên.
          Thần thoại người Tày khá phong phú và độc đáo, do sống ở khu vực trước cách mạng nên ít chịu ảnh hưởng của dân tộc xung quanh, phổ biến là truyện phát sinh ra trời đất, con ngườn và muôn vật với nạn hồng thủy. Truyện quả bầu, truyện cắt đứt dây giữa trời và đất, truyện tại sao người làm chúa muôn loài…
* Thơ ca dân gian
          Cũng như truyện kể dân gian, thơ ca tày là những tác phẩm truyền miệng không rõ sáng tác từ bao giờ và sáng tác của ai. Những thơ ca này gồm những câu ca dao, những tập thơ tình yêu, thơ ca trong hội hè, đám cưới…nên thơ ca dân tộc Tày chủ yếu là nền thơ ca dân gian. Như đã trình bày trên đại bộ phận thơ ca cổ của người tày là thơ ca truyền miêng, do tập thể sáng tác được sửa đi gọt lại nhiều lần qua các cuộc hát phươn, hát cọi và được truyền từ người này sang người khác, hiện nay khó tìm được nguyên bản chính thức
* Tình ca: tình ca người Tày gọi là “yếu” là tục hát ví giữa thanh niên nam, nữ là hình thức thơ ca dân gian phong phú nhất. thanh niên nam, nữ có thể hát liền ba, liền bốn đêm không hết đề tài, họ “yếu, hay còn gọi là hát phươn” mỗi khi đến hỏi thăm nhau, khi có ngày hội, ngày tết… “yếu” là tiếng nói của tình yêu, là thứ thơ ca của những người mới lớn nên rất lành mạnh, trong sáng và dầy sức sống.
* Văn tế: Trong tang lễ đồng bào Tày dùng văn tế “ văn than”, “khắp ca trường”. văn than được đông bào ưa chuộng nhất vì diễn đặt được tình cảm của mình với người qua đời, văn này được truyền miệng lại hầu như nguyên vẹn những công thúc trong gia lễ gồm 8 đôi mỗi đôi 2 bài.
* Ca cúng bái: Người Tày có rất nhiều bài ca cúng bái, nội dung chủ yếu phục vụ cho việc cúng bái cho các ngày cúng bản, cúng làm nhà, lễ cưới, đám tang.. nội dung phản ánh được những nét sinh hoạt quá khú, lập mường, lập bản, ca ngợi tổ tiên…
* Văn kể truyện: Văn kể truyện của người tày thường làm theo thể tự do người ta chủ yếu đem những truyện thần thoại, truyện truyền thuyết ra kể cho nhau nghe.
7.2. Một số trò chơi dân gian
          Thanh niên nam nữ Tày có các trò chơi dân gian rất lành mạnh trong những ngày hội, ngày tết đầu năm, hội Lồng tồng. đồng bào rất thích ném còn, đánh yếm, kéo co, bắn nỏ…
* Ném còn
          Còn là thứ cầu có chiếc đầu bằng một thứ vải màu, vuông cạnh khoảng 10cm, trong để cát và một chiếc đuôi dài gần 1m tết bằng vải ngũ sắc.
          Có hai cách ném còn:
          - Ném còn qua một lỗ vòng tròn, giữa đồng người ta dựng một cây mai khoảng 15m, đóng giá như cột cờ, trên đỉnh chóp người ta uốn ngọn mai tành một vòng tròn dán giấy trắng. Thanh niên nam nữ chia làm hai bên thi nhau nhằm vào vòng giấy mà tung còn, người nào nhanh tay bắt được còn của đối phương thì mới được tung ném, người ném trúng vòng giấy thủng thì được thưởng.
          - Tung còn: Trai gái chia làm hai bên, người con trai tung cho người con gái mình thích nếu người đó bắt quả còn là chấp nhận sự cầu thân, từ lúc đó cặp trai gái tung còn, bắt còn với nhau. Buổi tung còn đầu tiên có nhiều hứa hẹn, họ trao nhau ỷ vật như: chiếc nhẫn, khăn tay…
          Trò chơi tung còn, ném còn tuy đơn giản về hình thức nhưng nội dung rất sâu sắc, quả còn là trung tâm hanh phúc và tình bạn bè ai ném trúng đích là cả năm hạnh phúc, ai tung còn được nhiều bạn tình bắt là hứa hẹn một tình yêu tươi đẹp. còn tung đi tung lại biểu hiện tình hữu nghị chan hòa giữa người cùng bản, cùng mường.
* Đánh yến
          Tức là đánh cầu lông gà, đó là trò chơi của thanh nữ và trẻ em
* Kéo co
          Người ta dùng sợi dây thừng có nơi dùng dây song, trên sân bãi cỏ chia đều nam nữ, có buộc sợi dây bằng vải màu, ở giữa có tài bên nào kéo sợ dậy bằng vải qua vạch quy định là thắng cuộc được thưởng. khi kéo co xong có nơi họ trẻ sợi dậy song cắt ra chia cho mỗi người có mặt trong lễ hội một sợi nhỏ về làm sẹo trâu để lấy lộc đầu năm
          Ngoài ra còn các trò chơi: đánh quay, đánh yến, đi cà kheo.Hiện nay các trò chơi dân gian và các hội thi còn rất ít chưa được quan tâm còn chạy theo xu thế thể thao hiện đại như bóng đá, bóng chuyển, bóng bàn, cầu lông…


Tin cùng loại