Văn hóa

DÂN TỘC GIÁY Ở MÈO VẠC

20/09/2016

I. KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC GIÁY HUYỆN MÈO VẠC
1. Khái quát chung
Dân tộc Giáy huyện Mèo Vạc có khoảng 5.146 người (số liệu 2013), chiếm khoảng 6,69% dân số toàn huyện, cư trú ở hầu hết các xã, thị trấn, trong đó, chủ yếu là ở các xã: Nậm Ban, Tát Ngà, Niêm Sơn, Xín Cái.  Tiếng Giáy thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, ngữ hệ Thái – Ka Đai. Họ có chữ viết riêng dựa trên chữ Hán (nôm Giáy). Cũng như người Tày, Nùng, Thái, người Giáy canh tác trên các mảnh ruộng bằng phẳng trồng lúa tẻ. Trước kia mỗi năm chỉ làm một vụ. Người Giáy từ Trung quốc di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200 năm (cuối thế kỷ XVIII). Đặc điểm của người Giáy có quan hệ mật thiết về các mặt như ăn ở, may mặc, ngôn ngữ, phong tục… rất gần gũi với người Tày, Nùng, Thái, Bố Y…
 
2. Đặc điểm kinh tế
Người Giáy làm ruộng nước là chính, có nhiều kinh nghiệm canh tác lúa nước trên những ruộng bậc thang. Bên cạnh đó, họ làm thêm nương, rẫy trồng ngô, các loại cây có củ và rau xanh. Đồng bào nuôi nhiều trâu, ngựa, lợn, gà, vịt. Họ có truyền thống dùng ngựa để cưỡi, thồ, dùng trâu kéo cày, kéo gỗ. Đồng bào Giáy có một số nghề thủ công nhưng chưa phát triển như: đan lát những dụng cụ, đồ dùng cho gia đình bằng tre, nứa, không có tính chất sản phẩm hàng hoá trao đổi. Người Giáy biết đúc lưỡi cày, làm đồ trang sức, vòng bạc, vòng đồng, trồng bông kéo sợi dệt vải khổ hẹp và dệt thổ cẩm rất đẹp và trang nhã. Họ mua bán hàng hóa qua các phiên chợ. Người Giáy nổi tiếng nghề thủ công như đan lát, đóng đồ gỗ, làm bàn ghế, nung gạch, ngói, vôi...
3. Hôn nhân gia đình
 Theo phong tục dân tộc Giáy, trong các gia đình vị thế nổi bật là người chồng, người cha. Con cái lấy họ theo cha.
a) Cưới xin: Nhà trai chủ động việc cưới xin, sau lễ cưới, cô dâu về ở cùng gia đình nhà chồng, ngoài ra, cũng có việc ở rể khá phổ biến. Cưới xin có nhiều nghi lễ: dạm hỏi, thả mối, ăn hỏi, cưới và lại mặt. Trong lễ ăn hỏi nhà trai đưa cho nhà gái một vòng cổ và một vòng tay bằng bạc để "đánh dấu". Trong lễ cưới ngoài chi phí cho ăn uống, nhà trai còn phải mang cho nhà gái một số thực phẩm và tiền để làm quà tặng họ hàng gần bên nhà gái. Trong đám cưới người Giáy, trao dâu là nghi thức quan trọng khi nhà gái đi đưa dâu đến nhà trai và đã đến lúc chuẩn bị ra về. Các bài hát trao dâu nói lên tình cảm của cha mẹ, anh chị em, họ hàng đối với cô dâu khi về nhà chồng. Đó cũng là những lời dặn dò, khuyên răn cô dâu khi về sống ở gia đình nhà chồng. Người Giáy quan niệm làm dâu là một việc khó. Chính vì thế, các lời hát trong nghi thức trao dâu thực chất là những lời tâm sự, dạy bảo chân thành của mọi người đối với cô dâu. Những lời dạy bảo này sẽ giúp cô dâu ứng xử tốt hơn với họ hàng nhà chồng, nhất là bố mẹ và anh em của chú rể. Hát trao dâu trong đám cưới người Giáy là một phong tục đẹp, vẫn được duy trì đến ngày nay. Những lời hát cũng được bổ sung ngày càng phong phú, thiết thực hơn đối với những cô dâu trẻ khi bước chân về nhà chồng. Đám cưới (Cứn lảu) là một trong những ngày hội vui nhất của người Giáy. Họ quan niệm, “cứn lảu” càng lớn, càng đông vui thì hạnh phúc của đôi trai gái càng được bền lâu và thiêng liêng hơn. Trong các đám cưới người Giáy thường bao giờ cũng có các cuộc hát đối đáp giữa trai gái của bản làng này với trai gái của bản làng khác đến dự đám cưới. Các cuộc hát đối đáp này thường được bắt đầu vào chập tối và có khi kéo dài đến tận ngày hôm sau, đêm hôm sau. Ngoài ra trong các nghi thức lễ cưới đều có kèm theo các bài hát như hát đón dâu, hát đưa dâu, hát rửa mặt, hát trước mâm trước rượu, hát đạo lý, hát khuyên răn, hát cám ơn.
b) Sinh đẻ: Khi có thai phụ nữ phải kiêng nhiều thứ: không đun củi từ ngọn lên gốc (sợ đẻ ngược), không đến đám tang hay nơi thờ cúng (sợ mất vía), không đến nhà khác khi có vật nuôi mới đẻ (con vật nuôi mới đẻ sẽ chết). Gần đến ngày đẻ, họ phải cúng mụ. Trẻ mới đẻ cúng báo tổ tiên (mố sám hắt), dịp đứa bé đầy tháng, có lễ đặt tên, ngày tháng năm sinh của mỗi người được thầy cúng ghi vào miếng vải đỏ, sẽ dùng để so tuổi khi tính chuyện cưới xin và chọn giờ trong việc đám ma của chính người đó.
4. Nhà cửa
Người Giáy huyện Mèo Vạc chủ yếu ở nhà sàn 3 gian. Gian giữa bao giờ cũng là nơi trang nghiêm đặt bàn thờ tổ tiên và tiếp khách. Buồng các cặp vợ chồng trong gia đình quay ở các gian bên. Phụ nữ không nằm gian giữa. Bếp thường đặt ở gian bên; nay có nhiều gia đình đã làm nhà để đun nấu riêng.
 
5. Văn hóa, văn nghệ
Người Giáy vốn có truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, câu đố, đồng dao v.v... Có nhiều truyện giải thích hiện tượng tự nhiên, có nhiều truyện thơ dài, có truyện kết hợp lời kể với lời hát. Dân ca phong phú, gồm nhiều loại, mỗi loại có nhiều bài, làn điệu khác nhau, đặc biệt các hình thức hát giao duyên nam nữ là sinh hoạt sôi nổi và hấp dẫn. Ở người Giáy có ba kiểu hát mà họ gọi là "phướn" hát bên mâm rượu, hát đêm và hát tiễn dặn...
6. Ma chay
Người Giáy cho rằng khi người ta chết, nếu ma chay chu đáo thì sẽ được lên trời sống sung sướng cùng với tổ tiên, nếu không sẽ bị đưa xuống âm ti hoặc biến thành con vật. Vì thế, ở những gia đình khá giả đám tang có thể kéo dài tới 5-7 ngày và có thêm một số nghi lễ như thổi kèn (pì le), múa trống... Con cái để tang bố mẹ một năm và phải kiêng cữ như không được ăn nội tạng các con vật như trâu, bò, dê, ngựa, lợn; không được ăn ốc, quả sổ.
Đám ma của dân tộc Giáy xã Nậm Ban
7. Thờ cúng
Bàn thờ đặt ở gian giữa, thường có nhiều bát hương thờ tổ tiên. Trong trường hợp chủ nhà là con nuôi hay con rể thừa tự muốn thờ họ bố mẹ đẻ thì đặt thêm một bát hương ở bên trái. Những gia đình không thờ bà mụ trong buồng thì đặt thêm một bát hương ở bên phải. Ở một số gia đình ngoài bàn thờ lớn còn đặt một bàn thờ nhỏ để thờ bố mẹ vợ ở ngoài gần cầu thang. Phía dưới bàn thờ lớn ngay trên mặt đất đặt một bát hương cúng thổ địa, ở hai bên cửa chính có hai bát hương thờ thần giữ cửa.
8. Lễ tết
Người Giáy ăn Tết Nguyên đán, Thanh minh, Ðoan ngọ.... Vào ngày mùng 3  đến ngày mùng 6 Tết nguyên đán, người Giáy ở Nậm Ban, Tát Ngà tổ chức lễ hội lồng tồng gọi là “roong tong” có nghĩa là xuống đồng để cầu mùa màng bội thu, người yên vật thịnh, mưa thuận, gió hoà. Tại lễ hội, lễ vật trên bàn cúng chính bao gồm: xôi, phỏng gạo, bánh chưng, thịt 1 con lợn, 01 con vịt hoặc gà, 5 cái chén, 5 đôi đũa, 1 bát nước, 1 bát muối, ngoài ra, mỗi hộ gia đình đem một mâm cúng riêng đặt bên cạnh mâm cũng chính gồm xôi, gạo, thịt, rượu, bánh chưng, 5 cái chén, 5 đôi đũa, 3 nén hương. Bên cạnh mâm cúng chính còn có quả Còn để ném vòng nhật nguyệt. Sau khi chuẩn bị các lễ vật xong thầy cúng khấn cúng, đọc tên các lễ vật và xin vị thần bản phù hộ cho dân bản một mùa bội thu, gia súc đầy chuồng, làm được của ăn của để. Lễ cúng xong thì thầy cúng sẽ đưa quả Còn cho những người già uy tín trong bản ném vòng hoặc ném theo bên nam, nữ đối nhau. Tham gia lễ hội là tất cả già trẻ, lớn bé trong bản. Người Giáy cũng rất cởi mở khi đón tiếp bạn bè các dân tộc anh em đến xem và chia vui. Sau phần lễ (cúng tế) là đến phần hội. Nhiều trò chơi dân gian diễn ra rất vui như trò chơi ném còn, đánh yến, đánh sảng (tức tràng). Hiện nay, một số nơi chơi kéo co, đánh bóng chuyền. Lễ hội Lồng tồng (xuống đồng) của người Giáy là sự giao hoà giữa thiên nhiên và con người, làm mỗi người trong cộng đồng nơi đây biết trân trọng giá trị của lịch sử (ghi nhớ công lao người mở đất lập bản), biết trân trọng thiên nhiên (tâm linh tôn trọng các thế lực siêu nhiên, biết yêu thương cỏ cây, tài nguyên đất và nước), biết yêu thương con người (giao lưu, đồng cảm, đoàn kết). Vì vậy, lễ hội này vừa có nét đẹp văn hoá cổ truyền, vừa phù hợp với điều kiện cuộc sống hiện đại mà ta vẫn kỳ vọng là sự phát triển bền vững.
 
9. Trang phục
Trang phục Giáy mỗi nơi có một sắc thái riêng
Trang phục nam: Nam mặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, đứng, cài cúc vải. Áo thường có ba túi, hai túi dưới, một túi trên bên phải. Thân áo hơi ngắn, màu chàm. Nam mặc quần ống đứng (rộng 35 - 40 cm), cạp to bản, không dũng dây cút mà chỉ vận vào người. Trước đây nam giới thường quấn khăn trên đầu, mặc áo xẻ nách.
Trang phục nữ: Phụ nữ Giáy mặc loại áo ngắn xẻ nách. Đây là loại áo ngắn trùm kín mông, xẻ nách phải, ống tay rộng. Cổ áo đường viền xẻ nách từ vai trái sang phải được viền và trang trí vải khác màu (thường là tương phản với nền áo) cũng như ở hai vai, giữa cánh tay và cửa tay. Áo mặc trong là loại áo cánh ngắn cộc tay, xẻ ngực, cổ tròn thấp và có hai túi dưới. Áo xẻ nách cài cúc vải được tết cẩn thận với nhiều loại đẹp mắt, quần dài gần đến gối, ngoài có váy cuổn soắn ốc sao mông. Phụ nữ Giáy thường đội khăn quấn thành nhiều kiểu khác nhau, để hở vải cuốn tóc, cổ đeo vòng bạc, đeo túi vải thêu hoa văn. Phổ biến đi loại giày vải thêu hoa văn nhiều loại.


Tin cùng loại