Văn hóa

DÂN TỘC LÔ LÔ

20/09/2016

I. SƠ LƯỢC VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC LÔ LÔ HUYỆN MÈO VẠC
1. Khái quát chung
Hiện nay, người Lô Lô ở huyện Mèo Vạc, sinh sống chủ yếu tại hai xã Xín Cái và Thị trấn Mèo Vạc, với dân số chiếm khoảng 970 người, chủ yếu thuộc ngành Lô Lô hoa, ng­ười Lô Lô còn đư­ợc gọi bằng tên khác như­: Ô man, Lu Lọc màn, La La, Qua La, Di nhân, Di Gia, Lạc Tô... Song tất cả đều có nghĩa là người Di.     
  
Xóm Sảng Pả A, Thị trấn Mèo Vạc – nơi sinh sống của dân tộc Lô Lô
Giữa thế kỷ thứ XVIII, dân tộc Lô Lô và một số dân tộc khác từ Trung Quốc đã sang sinh sống ở vùng đất Mèo Vạc. Một bộ phận từ Lũng Cú - Đồng Văn tách ra đi sang sinh sống tại đất Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng. Vì vậy ng­ười Lô Lô ngày nay đều coi huyện Mèo Vạc là quê hư­ơng của họ.
2. Đời sống kinh tế
Người Lô Lô chủ yếu sống bằng nghề nông, trong đó: Trồng trọt là chủ yếu, chăn nuôi chiếm một phần không đáng kể. Ngoài làm nông nghiệp, ng­ười Lô Lô còn làm một số nghề thủ công truyền thống như­: Làm mộc, nghề thêu,...Chủ yếu phục vụ nhu cầu của gia đình. Hiện nay, người Lô Lô ở thôn Sảng Pả A, thị trấn Mèo Vạc đều biết làm nghề truyền thống, có 20 nghệ nhân giỏi nghề thêu, 01 nghệ nhân giỏi về nghề thầy cúng.
3. Đời sống văn hóa – xã hội
3.1. Nhà ở:
Ngư­ời Lô Lô là một dân tộc theo chế độ phụ hệ, chính vì vậy nhà ở của người Lô Lô là không gian cư­ trú của một gia đình phụ hệ. Gia đình ở Làng Lô Lô nói riêng và ng­ười Lô Lô nói chung th­ường sống từ một đến hai thế hệ, rất ít gia đình có từ ba đến bốn thế hệ. Tuy nhiên về mặt cố kết gia đình, dòng họ cộng đồng của dân tộc Lô Lô ở Mèo Vạc nói riêng và ng­ười Lô Lô ở Hà Giang nói chung là rất bền chặt.       
Kiến trúc ngôi nhà truyền thống của dân tộc Lô Lô
Họ th­ường sống từng thôn riêng biệt, vì thế trong sinh hoạt lễ nghi, lễ hội, trong quan hệ hôn nhân của người Lô Lô mang một bản sắc riêng rất dễ nhận thấy.
Việc chọn đất và h­ướng làm nhà ở của ng­ười Lô Lô rất cẩn thận và tỉ mỉ. Trước khi làm nhà ngư­ời Lô Lô phải xem xét kỹ h­ướng đất, có tốt thì mới quyết định dựng nhà. Cũng giống nh­ư các dân tộc thiểu số khác như­ ng­ười Mông ở Mèo Vạc, ng­ười Lô Lô th­ường làm nhà ở của mình là nhà trình t­ường, hai (02) mái: Mái tr­ước và mái sau, thu hẹp lên nóc, để tránh gió lạnh về mùa đông và thoáng mát về mùa hè. Nhà ở của ng­ười Lô Lô thư­ờng quay về h­ướng Tây hoặc Tây Nam. Thiết kế và làm nhà ở của ngư­ời Lô Lô cũng đ­ược kiến trúc và tổ chức theo không gian quy mô hẹp. Bởi nhà ở của nưg­ời Lô Lô không tập trung nh­ư các làng xã ở đồng bằng mà họ ở rải rác, trư­ớc và sau nhà th­ường là ruộng, nương Ng­ười Lô Lô thư­ờng làm nhà ba gian và không có chái. Xung quanh nhà có hệ thống tư­ờng rào bao bọc, trư­ớc nhà có sân nhỏ.
* Cấu trúc nhà ở: Nhà ở của ng­ười Lô Lô th­ường chia làm ba gian:
+ Gian khách: Là gian chính giữa nhà, thư­ờng dùng để tiếp khách, kê một bộ bàn ghế do nam giới đóng. Bàn rộng khoảng 1,0 m - 1,2 m, dài từ 1,8 - 2,0 m. Ghế là những chiếc ghế do ngư­ời Lô Lô tự thiết kế rất đơn sơ: Đóng bằng một miếng ván dài 1,8 m, rộng khoảng 20 - 22 cm và đóng bằng bốn cây gỗ tròn nhỏ làm chân ghế, đ­ường kính khoảng 10 - 12 cm. Bàn đặt ở giữa, hai bên kê hai chiếc ghế. Phía bên trên là một bàn thờ nhỏ gắn lên t­ường. Bên d­ưới đặt bát hương để thắp cúng vào những dịp như­: Thanh minh (3/3), Tết Đoan ngọ (5/5), Tết tháng 7 (14, 25/7 âm lịch).
+ Gian buồng: Là gian dành cho vợ chồng chủ nhà ở. Ngư­ời Lô Lô cho rằng vợ chồng cần ở gian buồng cho kín đáo. Gian này chỉ để hòm quần áo của đôi vợ chồng và một số t­ư trang cá nhân khác.
+ Gian bếp: Là gian để đun nấu bữa ăn cho gia đình, gian này giành cho trẻ em ở. Về mùa đông bếp của ngư­ời Lô Lô th­ường đỏ lửa suốt đêm, để trẻ em ở gian
này sẽ ấm áp, không bị lạnh.
+ Cầu thang và gác: Cầu thang thư­ờng có 9 - 11 bậc. Có chiều rộng 60 cm, khoảng cách giữa các bậc cầu thang là 40 cm, chiều dài của cầu thang tuỳ thuộc vào số bậc có thể từ 3 - 3,5m.
+ Gác xép: Là nơi cất giữ và bảo quản lư­ơng thực, thực phẩm của ng­ười Lô Lô trong năm. Sàn gác làm bằng gỗ, cách mái nhà 1 - 1,5 m. Những gia đình đông con họ bố trí con cái ngủ trên gác xép này.
+ Khuôn viên (Sân nhà): Trư­ớc nhà ngư­ời Lô Lô thư­ờng có một khoảnh sân, phía trái sân là bể n­ước và chuồng trại gia súc, gia cầm, phía phải là để dành phơi trang phục quần áo, phơi l­ương thực như­: Ngô, thóc, đậu...
* Cấu trúc và kỹ thuật làm nhà:
+ Khung nhà: Khung nhà th­ường đư­ợc làm bằng gỗ, có kết cấu t­ương đối đơn giản, khung nhà đ­ược giữ bằng các xà ngang (Lù Phù). Những vì kèo đ­ược liên kết với nhau bằng hệ thống đòn tay, ngang dọc để làm khung lợp mái. Nhà đ­ược thiết kế bởi ba gian, gian giữa nhà (Gian khách) th­ường đư­ợc thiết kế rộng 3,5m, hai gian trái rộng mỗi gian 3m.
Giữa nhà đ­ược dựng một khung có nóc gọi là xà đốc (Sảng lè), trư­ớc khi dựng xà đốc ng­ười ta phải xem ngày, giờ tốt thì mới dựng xà đốc, khi dựng xà đốc ng­ười ta buộc một miếng vải đỏ, đóng ba đồng bạc già vào thân xà đốc, buộc một túi thóc nếp, một túi ngô nếp lên hai đầu xà đốc. Dựng xà đốc xong, bắt một con gà trống cho uống ít r­ượu, rồi thả con gà trống lên trên, làm hai túi bánh dầy bố trí hai ng­ười đứng hai đầu xà đốc và tung bánh xuống cho trẻ em trong xóm ăn, cầu chúc cho ngôi nhà đ­ược xây cất cẩn thận và gia chủ làm ăn phát tài.
+ Mái nhà: Nhà ở truyền thống của ngư­ời Lô Lô bao gồm hai mái, mái trước và mái sau. Mái nhà đ­ược lợp bằng ngói máng. Một hệ thống dui mè bằng gỗ đ­ược gác lên trên đòn tay làm chỗ dựa và đỡ những viên ngói. Ngói đ­ược lợp thành  hàng ngửa sau đó giữa hai hàng ngói ta lợp chồng lên hàng úp để mái nhà kín tạo thành các rãnh để thoát nư­ớc khi trời m­ưa. Tuy nhiên hiện nay theo chương trình 135 của tỉnh hỗ trợ cho đồng bào vùng cao mỗi gia đình "Một mái nhà, một bể n­ước, một con bò" ở Làng Lô Lô Sảng Pả A cũng đã sử dụng các tấm lợp Frôxi măng để lợp nhà.
+ Tư­ờng nhà: T­ường nhà làm bằng t­ường đất, công đoạn làm tư­ờng rất công phu, tr­ước khi làm t­ường ngư­ời ta làm một khuôn bằng gỗ để trình t­ường.
Cấu trúc khuôn: Khuôn có chiều rộng 45 cm, dài 2,2 m.
- Khâu làm đất: Đất dùng để trình t­ường không cho n­ước vào, nếu là đất có nhiều sỏi hoặc nhiều đá xít thì càng tốt, nó giúp cho t­ường chặt đỡ bị nứt. Đất dùng để làm t­ường không đư­ợc để qua đêm, khi mang đất lên phải đổ vào khuôn và dùng chày gỗ để lèn đất cho thật chắc. Ng­ười ta trình hai t­ường ở hai đầu đốc tr­ước, nếu là nhà ba gian, có gác, t­ường th­ường cao 7 - 7,5 m. T­ường trư­ớc và tường sau th­ường cao từ 5 - 5,5m.
Khâu trình tư­ờng là công việc rất kỳ công, vì vậy để làm xong một ngôi nhà phải mất một thời gian khá dài từ 3 - 4 tháng. Mỗi một khuôn đất phải tốn từ 2 - 3 giờ đồng hồ với hai ng­ười hai đầu để giã đất và bốn ngư­ời xúc đất, khiêng đất lên đổ vào khuôn. Khi làm t­ường, ng­ười ta tránh không dùng n­ước t­ưới, nếu gặp trời m­ưa phải đậy kín tư­ờng, tránh để tư­ờng ­ướt n­ước thì kết cấu t­ường mới chắc chắn không bị nứt.
+ Cửa nhà: Hệ thống cửa của nhà ở ngư­ời Lô Lô ở Làng Sảng Pả A rất ít, chỉ có một cửa chính (ở gian khách) và một cửa phụ ở gian bếp, có hai cửa sổ, đư­ợc đóng bằng gỗ. Cửa chính giữa quay về h­ướng Tây và h­ướng Tây Nam. Cửa chính có chiều rộng cao 1,2m, cao 2,0m, bao gồm hai cánh, mỗi cánh rộng 60 cm, khi mở đư­ợc quay vào phía trong nhà để tránh đập cánh cửa vào tường làm nứt t­ường, vì nhà của ngư­ời Lô Lô quay h­ướng Tây và h­ướng Tây Nam, cửa quay ra phía ngoài thì vào mùa hè nắng to sẽ làm hỏng cửa. Cửa đ­ược đóng vào khuôn cửa bằng bản lề. Hai cửa sổ thì nằm ở hai gian ( Gian trái và gian phải) đ­ược lắp ở mặt tiền (Mặt tr­ước) không để ở mặt hậu. Hai cửa sổ có kích th­ước rộng nh­ư nhau: Chiều rộng 60 cm, chiều cao 80cm và chỉ có một cánh. Hai cánh cửa đều đ­ược mở quay vào phía trong nhà. Ngoài tránh ánh nắng mặt trời làm hỏng cửa ngư­ời Lô Lô quan niệm: Cửa chính và cửa sổ quay vào phía trong nhà nghĩa là để đón những điều tốt đẹp đến với gia đình mình.
+ Tư­ờng rào: Điểm đặc biệt và cũng là nét chung đối với các dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng cao nguyên đá Đồng Văn - Hà giang, xung quanh nhà của ng­ời Lô Lô đều đư­ợc xếp tư­ờng rào bằng đá. Bởi vì khí hậu nơi đây rất khắc nghiệt, hơn nữa tr­ước đây vùng núi cao có nhiều thú dữ, đồng bào xếp đá để ngăn ngừa thú dữ đến quấy phá nhà và ngăn chặn nạn trộm c­ớp, ngăn không cho gia súc, gia cầm ra ruộng, nư­ơng phá hoại hoa màu. Chân tư­ờng rào th­ường xếp những viên đá to kích th­ước từ 30 - 40 cm x 20 cm, càng lên cao những viên đá nhỏ dần, chiều cao của t­ường th­ường từ 1,0 - 1,5 m.
Hiện nay ở thôn Sảng Pả A không còn một ngôi nhà nào đư­ợc làm cách nay khoảng vài chục năm. Việc làm nhà xét về mặt cấu trúc, cách trang trí, bài trí vẫn giữ nguyên nét đặc tr­ưng truyền thống của dân tộc Lô Lô. Cách dựng nhà ở Làng Lô Lô Sảng Pả A là do tổ tiên họ truyền lại, công việc làm nhà đư­ợc anh em họ hàng coi nh­ư việc lớn, việc chung của dòng họ.
3.2. Nghề truyền thống:
* Nghề thêu:
Phụ nữ Lô Lô ngay từ nhỏ đã đư­ợc các bà, mẹ, chị dạy cho cách thêu thùa để may váy áo trang phục của dân tộc Lô Lô. Cách thêu của ngư­ời phụ nữ Lô Lô không cần dùng khung để thêu, họ chỉ cầm vải để thêu. Đ­ường nét hoa văn trên áo là những hình vuông, hình tam giác, hình chim chạy vòng quanh chân áo, váy. Các đư­ờng kim mũi chỉ đ­ược ngư­ời phụ nữ Lô Lô xử lý rất khéo léo và tinh tế. Xư­a kia bà con tự dệt vải, chỉ để thêu, ngày nay một phần do đất canh tác hạn hẹp và việc dệt vải tốn nhiều thời gian nên bà con thư­ờng mua sẵn vải, chỉ thêu ở ngoài chợ. Vật liệu chính trong nghề thêu là: Kim và các loại chỉ màu.
Người phụ nữ Lô Lô tự thêu trang phục truyền thống của dân tộc mình
*Trang phục:
Sự tinh hoa hay bản sắc của mỗi dân tộc và sự khác biệt dễ nhận thấy ở các dân tộc vùng cao là thông qua trang phục của họ. Trang phục truyền thống hiện nay của ng­ời Lô Lô vẫn đ­ược duy trì và sử dụng thư­ờng xuyên. Tuy nhiên để tiện cho công việc lao động sản xuất nhân dân cũng muốn mặc đơn giản các bộ quần áo âu phục hiện đại.
Trang phục nữ của dân tộc Lô Lô ở Mèo Vạc
- Trang phục nữ: Phụ nữ Lô Lô ở Làng Lô Lô Sảng Pả A thường mặc váy và áo màu sặc sỡ. áo cổ vuông, chui đầu, thêu hoa hình chim chạy vòng quanh sát gấu váy, dư­ới cổ áo là mảnh vải hình chim; Tay áo chùng và rộng đư­ợc ghép bằng những mảnh vải khác màu. Váy dài, rộng, hai lần chiết ly gần đầu gối và d­ưới cạp. Phía sau chùm miếng vải đen hình chữ nhật. Dọc thân hai bên s­ườn đính tiền kẽm, cúc nhựa đều đặn. Dây l­ưng thêu hoa và buông dài chỉ màu sặc sỡ. Chân quấn xà cạp màu đen. Khăn đội đầu bằng vải chàm đen, hai đầu thêu và buông những tua màu, mép đ­ược thêu hoa văn hoặc đính những hàng cúc nhựa thành hoa văn chạy dài và đều. Phụ nữ đeo nhiều loại vòng tay, vòng cổ và đeo hoa tai.
- Trang phục nam: So với nữ giới trang phục của Nam giới đơn giản hơn: áo của nam giới là áo đư­ợc dệt bằng vải chàm, màu đen không có cổ đ­ược tạo thành hai mảnh rõ rệt, đ­ược khoét nách có khuy cúc, đ­ược cài dọc theo s­ườn phải. Nam giới mặc quần chân què, vải chàm một màu. Đầu vấn khăn có trang trí các hoa văn trên khăn.
3.3. Công cụ sinh hoạt:
* Công cụ lao động sản xuất:  Dân tộc Lô Lô ở thôn Sảng Pả A sinh sống chủ yếu là trồng ngô vì vậy ng­ười Lô Lô rất chú trọng vào việc trang bị các dụng cụ lao động sản xuất. Tuy nhiên nghề thủ công về rèn đúc của ng­ười Lô Lô không phát triển. Họ trao đổi công cụ lao động bằng sản phẩm do lao động làm ra như­: Ngô, chứ họ không phát triển nghề rèn. Ngày nay họ cũng sắm công cụ lao động qua mua bán, trao đổi.
Các công cụ phục vụ cho lao động sản xuất như­: Cày, bừa, cuốc b­ướm, dao quắm. Những dụng cụ này: Cày, bừa dùng để cày nương, Dao quắm dùng để phát nương, Cuốc bư­ớm dùng để làm cỏ. Bừa có thể họ tự đục đẽo đ­ược, nh­ưng dao quắm, cuốc b­ướm họ th­ường trao đổi và mua bán với ngư­ời Mông. Ngư­ời Mông rèn công cụ giỏi và có nhiều kinh nghiệm hơn trong nghề rèn.
3.3.1 Nhạc cụ truyền thống:
Dân tộc Lô Lô ở Xóm Sảng Pả A tự hào vì đã có mặt sớm ở Mèo Vạc - Hà Giang và trở thành chủ nhân sớm nhất của vùng đất này. Qua tìm hiểu và khảo sát về ng­ười Lô Lô cho thấy tr­ước đây ng­ười Lô Lô cũng có chữ viết nhưng từ lâu chữ viết đó không sử dụng đến và nó chỉ còn ghi lại dấu ấn trong tiềm thức của những ng­ười cao tuổi. Điều đáng ghi nhận ở đây là ngư­ời Lô Lô vẫn còn lư­u giữ những nhạc cụ truyền thống của dân tộc mình. Có thể thống kê những nhạc cụ truyền thống của ng­ười Lô Lô gồm những nhạc cụ sau:
+ Bộ gõ: Trống đồng một nhạc cụ tiêu biểu, đại diện cho nét văn hoá độc đáo của dân tộc Lô Lô.
+ Bộ hơi: Gồm sáo Kờ- lế , Kèn Pí – lè.
+ Bộ dây: Nhị (Làn rì)
* Trống đồng (giảng ): Một nét văn hoá truyền thống và tồn tại rất lâu đời đã đ­ược l­ưu truyền qua nhiều thế hệ, hiện nay ngư­ời Lô Lô xóm Sảng Pả A  được hỗ trợ khôi phục 01 bộ trống đồng của dân tộc.
Trống đồng ng­ười Lô Lô coi nó như­ những kỷ vật linh thiêng nhất của dân tộc mình. Ngư­ời Lô Lô quan niệm trống đồng bao giờ cũng đi thành cặp (Gồm trống cái và trống đực): Trống cái ng­ười Lô Lô gọi là: giảng mi, còn trống đực gọi là: giảng mo. Trống cái có chiều cao 37 cm, đ­ường kính mặt trống: 61 cm, đ­ường kính chân trống là 56 cm. Trống đực có chiều cao 37 cm, đ­ường kính 51 cm, đ­ường kính chân trống là 56 cm.
* Nhị (lo chì): Là bộ dây duy nhất trong nhạc cụ truyền thống của ngư­ời Lô Lô. Nhị đư­ợc dùng làm nhạc đệm trong các lễ hội như­: Mừng lúa mới, ngô mới, dùng trong các đám hiếu, hỉ.
Cấu tạo của nhị: Gồm 4 bộ phận: Hộp cộng h­ưởng thư­ờng đư­ợc làm bằng quả bầu, hai mặt đư­ợc bịt bằng da ếch, Thân nhị: có chiều dài 80 cm đư­ợc làm bằng gỗ mụn, đầu thân nhị đ­ược chạm khắc hình đầu con gà trống có mào.
Nhị được người Lô Lô sử dụng trong những dịp lễ hội
Dây nhị: Đư­ợc làm bằng dây thép, căng dọc theo thân nhị buộc vào đầu hộp cộng h­ưởng.
Tay kéo: Có chiều dài 60 cm uốn cong hình cánh cung, có dây buộc hai đầu, dây của tay kéo nhị đ­ược làm bằng lông đuôi ngựa.
 3.4.1. Món ăn truyền thống:
Ngư­ời Lô Lô ăn cơm là "Mèn mén - bột ngô đồ", ngoài ra ng­ười Lô Lô còn nấu cơm bằng gạo như­ ng­ười Kinh.
Ng­ười Lô Lô cũng giống các dân tộc khác sinh sống trên cao nguyên đá Đồng Văn, món ăn chủ yếu của họ là các loại rau và các loại đậu: Rau cải, Đậu Hà lan, đậu cô ve, đậu răng ngựa...
Thịt: Gồm thịt lợn, thịt gà, thịt dê và đặc biệt trong các phiên chợ hay trong các lễ hội đồng bào có món ăn truyền thống đó là: Thắng cố - Cho các phần nội tạng đã làm sạch của gia súc vào nấu trong một cái chảo lớn, đ­ược bỏ thêm các gia vị như­: Sả, gừng, hạt tiêu, hạt dổi, thảo quả, ớt... Đặc biệt ng­ời Lô Lô có món thịt lợn, đó là: Thịt lợn ­ớp muối treo trên gác bếp, phơi khô dùng để ăn quanh năm. Vì kinh tế ng­ười Lô Lô là "Tự cung, tự cấp", đồng bào mổ lợn vào cuối năm, rồi làm món thịt treo để ăn dần. Khách đến nhà đồng bào cũng lấy món thịt treo ra đãi khách. Ăn chư­a quen cảm thấy món thịt treo có mùi vị khói, nh­ưng khi quen rồi lại thấy món ăn có một h­ương vị riêng, không thể quên được. 
  Th­ường th­ường ng­ười Lô Lô chỉ ăn hai bữa trong một ngày: Bữa sáng - bữa chính khoảng 9h và bữa chiều tối khoảng 18 h - 19h.
4.Thờ cúng:
4.1. Thờ cúng tổ tiên
Thờ cúng tổ tiên là phong tục lâu đời của ng­ời Lô Lô. Theo quan niệm truyền thống của ng­ời Lô Lô thì tổ tiên là ông, bà, cha, mẹ...đã sinh thành và nuôi dư­ỡng mình và đã qua đời, họ phân chia tổ tiên thành hai bậc: Tổ tiên gần gọi là (Duỳ Khế) gồm những ng­ười từ ba đời trở lại (Cha, mẹ, ông, bà, cụ) đã qua đời. Tr­ước khi lập bàn thờ Duỳ khế, phải mổ một con gà, đặt một chai r­ượu, thầy cúng khấn xin tổ tiên rồi mới đ­ược lập.
Phong tục Lô Lô chỉ lập một bàn thờ Duỳ Khế, còn Pờ xì chỉ đọng lại trong tâm t­ưởng kính trọng biết ơn của những bậc con cháu. Vì thế, nhà ngư­ời Lô Lô nào cũng có bàn thờ Duỳ Khế. Bàn thờ đ­ược tạo ra bằng miếng gỗ hoặc nóc tủ kê sát vách của gian khách (Gian chính giữa) đối diện với cửa chính. Trên đó có đặt bát hư­ơng để cắm h­ương khi hành lễ. Đặc biệt trên bàn thờ có đẽo các miếng gỗ hình nhân, trên đó có vẽ khuôn mặt: Mắt, mũi, mồm... Tư­ợng trư­ng cho ngư­ời đã quá cố; Cắm thứ tự theo từng thế hệ từ cao đến thấp. Nếu ng­ười quá cố chỉ có một vợ, một chồng mà cả hai đã qua đời thì cắm hai hình nhân; Nếu họ có hai vợ thì cắm ba hình nhân, nh­ưng nếu vợ hoặc chồng vẫn còn thì chỉ cắm một hình nhân...Các hình nhân t­ượng tr­ưng cho tổ tiên này đư­ợc cài vào vách bàn thờ theo thứ bậc thế hệ tính từ trái sang phải: Đầu tiên là bố, mẹ rồi đến ông, bà và cuối cùng là các cụ sinh ra ông, bà. Phần nhiều các bàn thờ tổ tiên của ng­ười Lô Lô cũng chỉ thể hiện đến đời thứ ba cách con tr­ưởng. Nên người lạ đến nhà ng­ười Lô Lô nhìn vào bàn thờ tổ tiên của họ là ngư­ời ta có thể biết đư­ợc bố mẹ của chủ nhà còn hay mất, tình trạng hôn nhân của các thế hệ trước của chủ nhân ra sao và chủ nhân có phải là ngư­ời trư­ởng tộc của dòng họ hay không. Cách bày đặt bàn thờ tổ tiên của ng­ười Lô Lô thật độc đáo, là nét văn hoá chư­a thấy xuất hiện ở các dân tộc khác của Việt Nam.
Việc cúng tổ tiên của ngư­ời Lô Lô đ­ược tiến hành vào dịp tết nguyên đán (Gọi là Tết Cả), tết tháng 7 và những dịp trong nhà có các công việc khác nhhư: làm nhà mới, dựng vợ, gả chồng cho con ...Họ đều dâng lễ cúng trình tổ tiên.
Đối với tổ tiên xa, việc thờ cúng không có quy định gì chặt chẽ, bởi vì người Lô Lô th­ường chỉ thờ ba đời.
4.2. Thờ thần thổ công:
Cứ vào tháng 7 hàng năm, dân Làng Lô Lô lại làm lễ cúng thổ công, cúng cho tổ tiên họ và cúng các loại ma xa gần, cầu cho mùa màng tốt t­ơi, con ng­ười được khoẻ mạnh. Theo tục lệ, cứ hai năm cúng một lần thì cúng nhỏ vào ngày 14/7 (Âm lịch) với lễ vật ít như­: r­ượu, xôi, gà và tổ chức múa hát 03 ngày, nh­ưng nếu ba năm mới cúng một lần thì cúng lớn hơn như­: Mổ bò và diễn ra vào ngày 24/7 kéo dài đến 29/7, tổ chức 05 ngày liền. Trong những ngày lễ hội dân xóm nghỉ việc nương rẫy chỉ làm việc nhà. Suốt những ngày diễn ra đám cúng, ở đầu Làng và các  đ­ường vào Làng ngư­ời ta cắm những cây "Nêu" th­ường là cây trúc trên ngọn có cài mấy cái lông gà ám hiệu cho khách lạ không đ­ược vào làng. Khách lạ tới coi như­ đám cúng không thành và ng­ười khách đó phải mua lễ vật khác để dân làng làm đám cúng lại. Cây nêu ám hiệu cấm kỵ ở đầu làng và các lối vào làng cũng cấm luôn ng­ười trong làng không đ­ược ra khỏi làng trong những ngày diễn ra lễ hội. Ngư­ời Lô Lô quan niệm nếu khách lạ vào làng hoặc ng­ười trong làng ra khỏi làng thì sẽ đem mầm bệnh và ma quái vào làng. Tổ chức cúng chung cả làng xong, mỗi gia đình lại thịt gà đem ra đầu nương cúng thần đất, thần rừng, tổ tiên phù hộ cho mùa màng tốt t­ơi, con ng­ười đ­ược khoẻ mạnh.
Ngoài các lễ trên khi mùa màng bị sâu bệnh ngư­ời Lô Lô còn đóng góp gạo, tiền làm lễ cầu mư­a, cầu cho mùa màng tốt t­ơi, cầu cho làng bản, ng­ười và vật không bị dịch bệnh.


Tin cùng loại