Lễ hội

CÁC PHONG TỤC TẬP QUÁN VÀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC MÔNG

20/09/2016

1. Lễ cúng 30 tết
Trước khi làm lễ cúng chủ nhà chuẩn bị 2 con gà 03 cây trúc, một ít giấy bạc, 01 chai rượu, 01 cái rá, 04 cái chén, 06 cái thìa gỗ.
Sau khi chuẩn bị xong các lễ vật, chủ nhà tiến hành lấy bó trúc có buộc vải đỏ quét xung quanh trong nhà để xua đuổi những gì không được tốt lành (người xưa gọi tà ma) rồi đem đổ ra ngã ba đường và quay trở về nhà tiến hành các bước cúng. Trước bàn thờ đặt một cái bàn gỗ (trên bàn gồm giấy bản, rượu, chén) rồi thắp hương lên bàn thờ, cửa nhà, bếp củi, bếp lò. Chủ nhà tiến hành cúng, sau khi
cúng tổ tiên xong chủ nhà mổ một con gà trống, nhỏ tiết gà lên tờ giấy bản; đồng thời nhổ lông gà dán vào tờ giấy bản thành 02 hàng, mỗi hàng có 04 cụm lông gà (thứ tự theo ngôi người đã mất) rồi mang gà đi làm chín chặt thành từng miếng nhỏ cho vào một bát con và một bát canh rồi múc cơm vào rá (hay cho vào bát) và 6 cái thìa gỗ đặt lên trên bàn cúng, chủ nhà tiến hành các bài cúng như: mời tổ tiên, ông bà và người thân trong gia đình đã mất về ăn tết cùng con cháu (01 bài cúng đồng nghĩa là mời một người ở thế giới bên kia) sau khi cúng xong chủ nhà dọn cơm đã cúng vào bên cạnh của bếp lò.
2. Lễ đặt tên trưởng thành
Để tiến hành các bước Lễ đặt tên cho người con trai dân tộc Mông trưởng thành, trước khi làm lễ đặt tên, người con rể phải chuẩn bị một con lợn (khoảng trên 50 kg), sau đó nhờ  một người trong dòng họ đi thông báo cho bên nhà ngoại đến ngày, tháng, năm (ngày, giờ tốt người con rể đã chọn), ông bà ngoại cùng một người đến nhà con rể. Sau khi đến nhà con rể, trước khi làm lễ, nhà con rể mổ một con gà (đã làm thịt chín) bày một mâm cơm mời ông bà nội, ông bà ngoại và người đi cùng để nói chuyện hai bên (mâm cơm thứ nhất) thông báo cho hai gia đình biết về lễ đặt tên, ăn xong mời ông bà ngoại ra chuồng lợn để xem, sau khi xem xong ông bà ngoại đồng ý cho gia đình nhà con rể bắt con lợn đã xem để mổ. Khi mổ lợn xong, con rể lấy một ít nội tạng (lòng, gan) ra làm chín và hai bên nội ngoại vừa ăn vừa nói chuyện (mâm thứ hai), khi ăn xong mâm thứ hai người giúp việc chặt hai miếng thịt ( gồm cả xương và thịt), một đùi lợn, một túi cơm và một chai rượu đặt vào trong chiếc quẩy tấu. Sau đó mời mọi người lên ăn cơm (mâm thứ ba) để tỏ lòng thành kính, người con rể đứng bên cạnh mâm cơm có ông bà nội, ngoại và xin phép (chắp tay quỳ, lạy) thông báo cho hai bên nội, ngoại và anh em trong dòng họ từ nay tôi đã có tên mới. Sau khi ăn uống xong, người giúp việc ( nói chuyện) bên nhà con rể lấy 01 đùi lợn đặt trong quẩy tấu giao cho bên nhà ngoại và tiễn nhà ngoại đến ngã ba đường.
Để giới thiệu cho du khách hiểu thêm về nét văn hóa của dân tộc Mông khác với dân cộng đồng các dân tộc Việt Nam đó là: Nó đánh dấu người con trai dân tộc Mông đã được gọi một cái tên mới với dòng họ, cộng đồng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng như về sau…
3. Lễ ăn hỏi
 
Đón dâu trong Lễ cưới người Mông
Trước khi chuẩn bị làm lễ ăn hỏi, gia đình nhà trai chuẩn bị 01 đôi gà, một gói thuốc lào, 01 chai rượu (hay 01 bình tông rượu). Chủ nhà nhờ hai người nam giới trong dòng họ sang nhà gái nói chuyện. Sau khi đến nhà gái, hai người nói chuyện, rồi rót rượu ra mời nhà gái, đại diện nhà gái có ý kiến về lễ thách cưới. Sau khi nói chuyện xong, hai người về nhà trai thông báo lại cho gia đình về lễ vật thách cưới của nhà gái, theo phong tục và tùy thuộc vào điều kiện từng gia đình ( ngày xưa lễ vật gồm có : 50 kg thịt lợn, 2 triệu tiền mặt, 20 lít rượu, 01 đôi gà, 01 con dao quắm, ngày nay số lễ vật đã quy đổi chuyển bằng tiền mặt từ 10 đến 15 triệu đồng). Sau khi chọn được ngày tốt, nhà trai đi trả lễ cho nhà gái gồm có 07 người, khi đến cửa nhà gái, nhà trai phải hát đối đáp với nhà gái, nếu một bên chịu thua thì bên nhà trai mới được vào nhà, sau khi được nhà gái mời vào nhà tiến hành các thủ tục như bóc thuốc lào, uống rượu. Sau khi nói chuyện xong, nhà gái nhất trí thì nhà trai mời nhà gái kiểm tra các lễ mà nhà gái yêu cầu, nhà gái nhất trí gả con gái cho nhà trai. Sau đó, nhà trai mời chú rể và phù rể đứng trước bàn thờ tổ tiên để hành lễ, sau khi các đoàn đại diện nhà trai (các bác, cô, cậu, dì) làm thủ tục xong nhà trai xin phép nhà gái đưa con dâu về. Trước khi ra cửa, bà cô đại diện nhà trai che cho con dâu rồi đi về nhà trai.
         
III. CÁC HÌNH THỨC VÀ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MÔNG
Dân tộc Mông có một nền văn hóa dân tộc lâu đời biểu hiện dưới các hình thức nghệ thuật truyền thống như âm nhạc, dân ca, ca dao, truyện thần thoại, truyện kể. Vì sống ở những vùng núi cao, gần với thiên nhiên nên các hình thức nghệ thuật của người Mông có đặc trưng riêng. Ví dụ như: Các nhạc cụ của họ rất đơn giản, có khi chỉ là một chiếc lá ngắt trên cành cây (khèn lá), có khi chỉ là hai ống trúc nối với nhau bằng một cuộn dây; nhạc cụ cao cấp nhất là trống và khèn trúc được làm bằng gỗ, ống trúc, da trâu. Các làn điệu dân ca, ca dao của người Mông rất phong phú và nội dung đủ các đề tài về tình yêu đôi lứa, nỗi khổ làm dâu, nỗi khổ mồ côi…Trong các truyện kể của người Mông đều nêu lên những bài đạo lý khuyên người ta nên làm việc thiện, tránh điều ác.
1. Nhạc cụ của người Mông
Khèn (Khèn trúc, khèn lá), Nhị, đàn tròn, đàn môi, gậy tiền, sáo (sáo gió, sáo ngang, sáo dọc), kèn pí lè, trống.
2. Sự tích cây khèn Mông
Cây khèn Mông
Truyện kể rằng ngày xưa có một gia đình nhà (Kháy Dinh) sinh được bảy người con: sáu người con trai, một người con gái. Người cha không may mất sớm.  Bảy anh em sống với mẹ. Không lâu sau người mẹ mất. Vì thương nhớ mẹ nên bảy anh em đã khóc suốt bảy ngày, bảy đêm, khóc đến nỗi không còn nước mắt. Người anh trai cả đi ra đằng sau nhà trông thấy một khóm trúc, người anh chặt một cây và lấy 1 đoạn đem về làm ống thổi. Nghe tiếng thổi phát ra từ cái ống giống như tiếng khóc. Người anh trai cả gọi các em đến, rồi chặt đưa cho mỗi người một đoạn cùng thổi để thay cho tiếng khóc. Và từ lúc đó mỗi lần có người ở cùng làng mất, họ đến mời bảy anh em đi thổi ở các đám ma. Một thời gian sau không may người em gái mất. Còn lại sáu anh em không biết thổi như thế nào cho hay, người anh trai cả chợt nghĩ ra lấy sáo của em gái làm cái ống to (bầu to nhất) và lấy lưỡi đồng lắp vào ống sáo của người anh cả và ghép các đoạn còn lại của các em thành một ống để thuận tiện trong khi thổi. Từ đó cây khèn của người Mông ra đời. Ống khèn to nhất sử dụng 2 lá đồng tượng trưng cho người anh trai cả và em gái, 5 ống còn lại tượng trưng cho 5 người em trai, mỗi ống một lá đồng và khi nhớ đến bố, mẹ và em gái chỉ cần một người thổi.
3. Cây lanh trong đời sống xã hội của người Mông
Cây lanh
          3.1. Sự tích
          Ngày xưa người Mông chưa có vải để may quần, áo mặc, chỉ biết bóc các loài vỏ cây để làm quần, áo. Một hôm, người Mông thấy có một con chim lạ bay vào nhả hạt xuống nương của mình. Không lâu thì thấy hạt mọc mầm và lên cây, người Mông đem đi trồng. Sau thời gian ngắn, cây lớn nhanh, rất thẳng, dẻo và cao, người Mông liền chặt về đem phơi khô rồi bẻ ra, thấy bên trong lõi cây thì cứng ngoài là vỏ mềm. Người Mông liền đem phần vỏ đi ngâm với nước, thấy vỏ cây mềm mại. Người Mông tước ra nối thành từng sợi dài và đem ra phơi ngoài nương để làm dây buộc, thì con chim lạ xuất hiện đến cắp sợi bay đi. Người Mông thấy vậy liền đi theo dấu vết con chim lạ, ngắm nhìn thấy con chim cuốn từng sợi vào những cành trúc thành vòng tròn rất đều và chắc chắn để làm chỗ trú ẩn. Nhìn thấy con chim lạ dùng mỏ kéo các sợi dây đan vào nhau, người Mông về nhà chặt cây trúc làm thành một khung tròn và quấn thành từng vòng vào các ống cây giống như  chim lạ đã làm. Thấy các sợi lanh đã cuốn chặt, mịn rất đẹp và mặc vào người thì thấy mềm và thuận tiện, người Mông đã nghĩ ra cách khâu nối các công đoạn để thành mảnh vải.
Công đoạn dệt sợi lanh thành vải của người Mông
          Qua quá trình lao động tự chế tác tỉ mỉ, công phu, người Mông đã thành công việc tự dệt cho mình những tấm vải để làm quần áo mặc thay cho vỏ cây trước đây. Qua lời giới thiệu trên, du khách đã phần nào hiểu được ý nghĩa của cây Lanh đối với đời sống sinh hoạt của người Mông và nhắn nhủ với mọi người rằng: Nguồn gốc sợi Lanh là vật không thể thiếu được nó gắn bó giữa người còn sống và vật nuôi và là sợi dây linh thiêng với người đã khuất.
          3.2. Quy trình dệt sợi lanh thành vải
3.2.1. Đất trồng: Đầu tiên là chọn đất trồng lanh, đất phải màu mỡ, thích hợp cho việc canh tác, là khu đất bằng phẳng, ít đá, ở những nơi cao ráo. Lanh là loại cây ưa ánh sáng nên mảnh đất trồng lanh phải được phát quang làm cho xung quanh thoáng đãng, không có cây to che bóng.
3.2.2. Kỹ thuật trồng lanh: Người Mông thường trồng lanh từ giữa tháng 2 đến tháng 3 âm lịch, tùy theo thời tiết, sau khi trồng ngô xong. Việc lựa chọn hạt lanh rất quan trọng, hạt phải chắc và mẩy. Đất trồng lanh sau khi được cày sới, phơi ải, dùng cuốc đập đất cho tơi nhỏ và nhặt sạch cỏ thì mới được gieo hạt.
3.2.3. Kỹ thuật và các công đoạn chế biến lanh thành sợi: Cây lanh khi thu hoạch về được phơi nắng 3-4 ngày và cách nhật, phơi đến tối thì cất, sau đó cây lanh lại được phơi sương 2 đêm cách nhật và cuối cùng phải phơi thêm một ngày nắng nữa. Lúc này cây lanh mới đủ độ để có thể đem tước lấy sợi và tất cả các công đoạn phơi phải làm xong trước khi có các đợt gió mùa đông bắc tràn về, nếu không lanh sẽ bị khô sợi, vì như vậy sẽ làm giảm độ bền của lanh, sợi sẽ bị nát và khó nối.
Cây lanh sau khi được phơi đủ độ người ta sẽ tiến hành bóc vỏ lanh. Việc bóc vỏ phải đảm bảo cho phần vỏ được bóc nguyên sợi từ gốc đến ngọn cây lanh, không để bị đứt nhiều đoạn, mỗi lần bóc tách vỏ ra khỏi than cây lanh chúng ta sẽ có được một mảnh vỏ cây lanh to và dài. Những sợi nào tước ra nhỏ và vừa thì để nguyên, còn sợi nào to chúng ta sẽ tiến hành tước sợi thành từng sợi nhỏ và đều nhau. Công đoan này thường được những người phụ nữ và trẻ em trong gia đình tranh thủ làm vào những khi công việc gia đình, đồng áng rảnh rỗi. Những ngày trời mưa không đi nương được, việc tước vỏ lanh cũng đòi hỏi sự khéo léo và kỹ thuật để sợi lanh thật đều, dài sợi và không bị đứt. Những sợi lanh sau khi tước thành sợi nhỏ sẽ được bó thành từng bó đều nhau và bỏ vào cối giã để cho sợi mềm và bong hết lớp vỏ lanh đi để dễ nối.
Cây lanh sau khi đã giã mềm sẽ tiếp tục đến công đoạn nối sợi. Sợi được nối dài và quấn vào long bàn tay thành các cuộn lanh. Sợi được nối bằng tay, đây là công đoạn mất nhiều thời gian nhất. Sau đó các cuộn lanh này sẽ đem ngâm nước từ 15-20 phút cho sợi mềm  và tăng độ dẻo dai rồi mới cho lên guồng quay để bắt đầu công đoạn thu sợi lanh. Thực hiện công đoạn này để cho sợi chuyển từ dạng bẹt và mỏng sang dạng tròn và xoắn bện của sợi.
Sau khi đã được quay sẽ ngâm vào nước khoảng 15 phút cho ngấm đều, rồi giăng sợi vòng quanh các mắc sợi, sau đó sợi lanh được ngâm cùng với nước tro bếp rồi luộc chín trong khoảng thời gian từ 30 - 60 phút cho bong hết vỏ xanh thì vớt ra và ủ một lớp tro trong vòng 5 ngày. Sau đó đem đi giặt sạch cho lên guồng thu sợi phơi khô. Sau đó sợi còn được luộc và ủ thêm 3 lần, lần luộc cuối cùng người ta cho một ít sáp ong vào cho sợi trắng mịn và dai chắc.
Lăn sợi: Sợi được đặt trên một khúc gỗ tròn, dùng  phiến đá có độ dài khoảng 70 đến 80cm, rộng 30cm đến 40cm  đặt lên trục gỗ rồi đứng lên phiến đá, tay vịn vào tường, chân đẩy lúc sang trái, lúc sang phải làm cho trục gỗ chuyển động lăn đi lặn lại miết xuống sợi lanh tạo độ mềm, bóng, các đầu nối sợi mỏng ra và phẳng. Đây là công đoạn đòi hỏi người thực hiện phải khỏe chân và khéo léo để phiến đá không bị trượt khỏi khúc gõ tròn.
Tháo sợi: Sau khi lăn xong sợi lanh bóng, trắng, người ta bắt đầu mang ra phơi để cho các sợi lanh tách ra. Sau đó quấn lên “Khấu lỳ” (đoạn trúc hình dấu cộng) rồi lựa chọn từng sợi một. Sau khi chọn xong tiếp tục nối từng sợi lanh vào vòng xoay bằng tay. Sau khi quấn xong, tách ra thành từng sợi quấn vào một ống trúc, lắp vào khung đạp tách thành từng cuộn một. Trên khung gồm có 5 cuộn, sau khi đặt sợi lanh vào khung người phụ nữ mới dùng chân đạp để sợi lanh quấn đều trên 5 ống trúc. Sau khi tháo sợi xong, xếp sợi dọc thành các con chỉ và chuyển sang khung dệt.
Khung dệt của người Mông rất đơn giản gồm có: Khung dệt được buộc vào vách nhà hoặc cột nhà, liên kết các bộ phận trong khung dệt gồm có thanh căng, lợi nén, go, trục cuốn vải, chân đạp guốc và thanh ghế ngồi. Trước khi dệt vải phải trải qua các công đoạn dán sợi, lên go, mắc cửi. Dàn sợi là công đoạn phức tạp, mất nhiều thời gian. Tùy theo tấm vải ngắn, dài mà người ta dàn sợi nhiều hay ít. Thông thường một khổ vải lanh có kích thước 35 - 50cm, khổ 35cm sẽ có 216 sợi dọc, khổ 50cm sẽ có 780 sợi dọc. Khi dệt người thợ ngồi trên ghế bắn ngang khung dệt, sau đó vòng dây căng qua lưng rồi kéo căng sợi dệt. Khi dệt dùng điều khiển bàn guốc để tách nhịp sợi so le, đồng thời tay luồn thoi giữa hai hàng sợi, đá sợi ngang qua lại. Dùng lung tay thoi dập mạnh cho các sợi chỉ khít lại với nhau.
Vẽ hoa văn: Người Mông có nhiều loại hình hoa văn trên váy, khăn đội đầu, trên thắt lưng hoặc mặt địu trẻ em, nó được thể hiện bằng kỹ thuật thêu tay, bằng đắp vải mà và vẽ hoa văn bằng sáp ong. Những hoa văn vẽ bằng sáp ong được tạo ra bằng cách như sau: Trước tiên người ta dùng dụng cụ vẽ đó là chiếc bút gắn ngòi đồng nhưng cũng có khi chỉ là những chiếc que tre bẻ thành hình tam giác, loại to để tỉa hoa lá, loại vừa chuyên vẽ hình vuông, hình tròn, hình xoắn ốc. Loại nhỏ để vẽ những đường kẻ nhỏ, những chi tiết bé hơn. Sau khi nấu chảy sáp ong họ sẽ nhúng đầu bút vẽ hoa văn lên vải, vẽ xong đem tấm vải đó đi nhuộm chàm.
          4. Lễ hội “Gào tào”
4.1. Ý nghĩa của lễ hội: Ngoài Lễ, tết thông thường và các nghi lễ trong đời sống, người Mông đặc biệt chú trọng “Lễ hội chơi đồi” hay còn gọi là “Lễ hội chơi núi mùa xuân” tiếng Mông gọi là “Lễ hội Gàu Tào”. Đây là lễ hội lớn nhất, đông người tham gia nhất; là lễ hội riêng có, đặc sắc nhất của dân tộc Mông. Lễ hội “Gầu Tào” với mục đích là cúng tạ trời đất, thần linh thổ công thổ địa đã phù hộ độ trì ban cho gia chủ con cái khoẻ mạnh, con trai nối dõi tông đường chăm sóc tổ tiên dòng họ; cầu phúc cầu lộc cho dân bản, mở hội tạ ơn trời đất núi sông đã ban cho tài lộc con cái học hành, công tác thành đạt và mùa màng bội thu, ngô lúa đầy sàn gia súc, gia cầm đầy chuồng. Đây cũng là dịp để người người gặp gỡ, vui chơi thoải mái, thi thố tài năng như: các làn điệu dân ca giao duyên hay các điệu khèn của trai bản làm siêu lòng biết bao thiếu nữ. Người người chuẩn bị tinh thần bước vào một năm mới làm ăn gặp nhiều may mắn hơn năm qua.
4.2. Đồ lễ: Mâm cúng gia đình, chủ lễ chuẩn bị một mâm cúng bao gồm: 1 giá ngô hạt, 2 bát gạo, 2 bát nước, 2 quả trứng  gà, 2 miếng vải đỏ, 1 miếng vải trắng, 1 bó hương, 4 chén (chén vại) rượu, 1 chai rượu, 1 con gà trống đặt lễ, 100 nghìn đồng đặt ở mâm cúng, 2 con gà (1 trống, 1 mái) để cúng (sau khi cúng xong thì mổ thịt); 04 cây gỗ được chặt từ trong rừng (để nguyên lá) 01 cây cao 5m; 03 cây cao khoảng 4m. Mỗi cây treo một quả còn, vải đỏ, giấy xanh đỏ được gấp hình quả bóng treo trên ngọn cây. 03 cây con để nguyên cả lá cắm riêng một chỗ cách 4 cây to khoảng 4-5m, 3 cây con buộc túm trên ngọn rồi cắm xuống đất, mâm cúng gồm 01 con gà trống, 01 con ngan, 01 chum rượu, 8 cái chén, 01 bộ thẻ xin âm dương (bằng sừng hoặc tre), 01 con gà, 01 mâm cỗ.
4.3. Các bước tiến hành: Thầy cúng đi trước, 2 thầy phụ cùng mọi người giúp việc và 2 vợ chồng chủ lễ theo sau ra đến điểm đặt 4 cây gỗ (cây nêu), mâm lễ. Thầy cúng làm động tác định vị 04 hướng, quyết định điểm cắm cây nêu. Hai vợ chồng gia chủ bước đến trước mặt thầy cúng làm động tác vái, người chồng đưa cho thầy cúng một nhúm thuốc lào, sau đó rót 2 chén rượu đưa cho thầy cúng và nói “Những năm trước đây do cuộc sống của gia đình và dân bản còn gặp nhiều khó khăn nên chúng con đã xin với thần linh sông núi phù hộ độ trì, ban cho chúng con và dân bản có con cái nối dõi tông đường, chăm sóc tổ tiên dòng họ, học hành, công tác thành đạt và làm ăn, làm mặc, mùa vụ được bội thu và tấn tài, tấn lộc ...”. Thầy cúng nhận thuốc lào, 02 chén rượu uống xong, lấy hương giấy vàng mã làm thủ tục xin thổ công cắm cây nêu mở hội tại đây để bà con dân bản đến đua tài vui xuân. Hai người phụ thầy bên mâm lễ bày lên bàn và rót rượu ra 04 chén. Thầy cúng đốt hương cắm vào lư hương và tay cầm 02 chén rượu khấn “ Thưa bà con nhân dân thôn Pả Vi thượng xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Hôm nay là ngày lành tháng tốt, đầu xuân năm mới để tạ ơn trời đất, thần linh sông núi đã phù hộ, độ trì ban cho mưa thuận, gió hoà làm ăn, làm mặc nhà nhà được bội thu, con cái khoẻ mạnh, học hành giỏi giang, công tác thành đạt nhờ cậy hồng phúc thần linh sông núi. Tôi thay mặt dòng họ Ly (gia chủ) và nhân dân thôn Pả Vi Thượng, xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang xin được phép chọn địa điểm này cắm cây nêu mở lễ hội Gầu Tào để tạ ơn với trời đất thần linh, sông núi đã ban cho mưa thuận gió hoà để các gia đình nhân dân thôn Pả Vi thượng có một năm qua người người, nhà nhà công tác, học hành làm ăn thuận lợi. Cầu cho sang năm mới nhà nhà, người người có sức khoẻ, con cái học hành giỏi giang ngoan ngoãn, tấn tài, tấn lộc, xin các vị thần linh chứng giám và cho phép tôi đại diện cho toàn thể nhân dân trên địa bàn dựng cây nêu, cây sông mở hội năm nay tại đây”. Thầy cúng cầm 04 chén rượu đổ theo 4 hướng. Tiếp tục rót rượu vào 4 chén. Xin phép dựng cây nêu: “Hôm nay, tôi thay mặt dân làng xin phép dựng cây nêu mở hội Gàu Tào tại đây. Cầu cho một năm mới người người, nhà nhà khoẻ mạnh, con cái chăm ngoan và làm ăn phát đạt tấn tài tấn lộc”. Thầy cúng tuyên bố: “Hôm nay mở hội tại đây, tất cả mọi người cần tuân thủ, thực hiện đúng các nội quy, quy định của lễ hội. Không được ai suy nghĩ và làm những điều cấm kỵ tại khu vực diễn ra lễ hội. Nếu ai vi phạm sẽ bị nghiêm trị”. Đọc xong, thầy cầm cây cung giơ lên cho mọi người thấy và treo lên cây nêu. Thầy cúng cho phép khai hội. Lễ tạ cây nêu: Thầy cúng đứng giữa 04 cây nêu khấn xin hạ cây nêu và tuyên bố kết thúc lễ hội. Hẹn đến mùa xuân sang năm: “Lễ hội năm nay đã được tổ chức long trọng, ý nghĩa để tạ ơn trời đất, thần linh sông núi suốt thời gian dài”.
Chính từ Lễ hội đã tạo cho các chàng trai, cô gái có dịp thi thố tài năng trong các làn điệu ca hát giao duyên, thể dục thể thao, giúp cho cuộc sống sinh hoạt văn hoá của tất cả mọi người sinh sống trên địa bàn tràn đầy phấn khởi, hướng tới một ngày mai tươi sáng theo chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời là sân chơi để nhân dân khắp nơi đến tham gia trổ tài và múa hát vui hội mong cầu được nhiều tài lộc để chuẩn bị cho một năm mới bước vào làm ăn, công tác gặp được nhiều điều may mắn như ý. Tôi xin tuyên bố lễ hội “Gàu Tào” đến đây là kết thúc. Thầy cúng khấn và cúng vái 4 hướng xin thần linh hạ cây nêu xong mang 01 chai rượu đưa cho, các trò chơi dân gian được tiến hành. Cụ thể như sau: lành và hạnh phúc./.iều điều may mắn n thầy phụ rót rượu nhờ anh em vác 4 cây gỗ cất ở một vách núi cao ráo đặt đó. Sau đó thầy cúng khấn xua đuổi tà ma vào 4 cây gỗ, cầu những điều tốt lành đến với gia chủ và anh em dòng họ cùng những người đến tham gia lễ hội một năm được bội thu, ngô đầy gác, bò, lợn, gà đầy chuồng, con cái mạnh khoẻ, tiền bạc đầy hòm.
Phần hội với những điệu múa khèn của các chàng trai, cô gái người Mông
          5. Các trò chơi
          5.1.Tung còn:
          Đây là một nét văn hóa truyền thống của nhân dân ta, bởi cây còn mang một ý nghĩa rất quan trọng trong những ngày hội truyền thống của dân tộc Việt. Theo dân gian: Cây còn được làm bằng tre, có đường kính khoảng 12 đến 15cm, chiều cao là 12m; 12m là tượng trưng cho 12 tháng trong năm, cây còn được dựng ở giữa một khoảng đất trống, rộng, hai đầu đối diện được vạch 2 vạch với khoảng cách từ cây còn ra khoảng 20 đến 25m, gốc cây còn được chôn sâu xuống đất sao cho chắc chắn, trên ngọn còn được buộc một hình tròn có đường kính khoảng 30cm, vòng tròn được dán hai mặt bằng giấy vàng, đỏ. Màu vàng và màu đỏ tượng trưng cho hai mặt âm, dương tượng trưng cho trời và đất.
          Quả còn được làm bằng vải, cát nhỏ, trang trí bằng những tua vải nhiều màu sắc bắt mắt (5 đến 7 màu) khi tung quả còn xuyên thủng qua vòng tròn là biểu tượng cho sự giao hòa âm, dương hòa hợp giữa đất và trời với tâm niệm của nhân dân là cuộc sống an bình trong năm, mùa màng bội thu, bản làng được ấm no, hạnh phúc, may mắn.
          5.2. Đánh sảng:
          Đánh sảng có nơi còn gọi là đánh cù hay đánh quay. Sảng được đẽo từ gỗ cứng như nghiến, đinh nhưng thường là lõi hay củ, rễ gỗ nghiến. Đẽo sảng phải có nghề, dao phải sắc không thì mẻ như chơi vì gỗ nghiến rất cứng, nếu đem ngâm nước vài tháng hay một năm thì càng cứng và dai hơn, gỗ chuyển màu đen bóng. Sảng phải to và cân đối thì quay mới tít và bổ được đối phương. Mũi sảng có khi được đóng đinh cho chắc và để hủy diệt sảng của đối phương. Chơi sảng rất dễ, có thể 2 người hay nhiều người với các quy ước tự thỏa thuận như kích thước sảng, sảng có đóng đinh mũi hay không, chơi theo phe hay chơi tự do. Để là người đi trước phải qua vòng xác định thứ tự gọi là dướng sảng, tức là buộc một đầu dây vào ngón tay giữa rồi quấn vào đầu dưới sảng, dùng sức giật mạnh đầu dây cho sảng quay và văng xuống đất. Trước đây hay dùng dây sảng bằng dây đay lấy từ bao tải. Ngày nay người chơi có dây dù, dây ni lông và nhiều loại dây khác khó đứt. Sảng ai quay lâu hơn là thắng và cứ tính thứ tự thời gian để đến lượt. Sảng ai chết trước thì phải đi sau cùng và bị bổ đầu tiên. Để sảng quay lâu, ngoài kỹ thuật dướng sảng còn phải chọn chỗ phẳng, nhẵn của bãi đất sau khi dướng phải thổi đất, bụi quanh đó và không được nuôi hay quất sảng (tức là dùng đầu dây quất vào sảng cho quay lâu hơn).
          Người chơi sảng có thể là trẻ con cũng có thể là người lớn nhưng chủ yếu là nam giới. Cứ ngày lễ tết lại tụ tập giữa làng hò reo vang trời, người thua cay cú hôm sau phải đi tìm lõi hay củ nghiến để đẽo sảng to hơn, dai hơn, thớ gỗ quắn vào nhau thì mới không bị bổ vỡ. Trẻ con người Mông ai cũng biết làm sảng và chơi sảng, chúng mang theo người đi học, đi chăn bò, đi làm nương để có thể tỉ thí bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, vì sảng dễ chơi chỉ cần hai người là được.
Mùa chơi sảng thường bắt đầu và kết thúc trước và sau tết nguyên đán khoảng 2 tháng, địa điểm là bãi đất giữa xóm nhưng nền đất phải cứng.
          5.3. Trò chơi cắt Mía:
          Đây là trò chơi có từ lâu đời của các dân tộc vùng cao. Người Mông cho rằng cắt mía thắng trong ngày đầu năm thì may mắn sẽ đến trong cả năm đó.
          Người quản trò dựng thẳng cây mía cao gần 4 m để người chơi ngắm sau đó tự cầm dao cắt. Nếu cắt cây mía làm hai phần bằng nhau thì thắng cuộc. Người thắng phải cắt cây mía làm hai phần gần bằng nhau nhất, chênh lệch do quản trò và người chơi tự thống nhất.
          Quản trò trao thưởng cho người cắt được cây mía bằng nhau nhất, hoặc căn cứ vào khoảng cách của 02 tấm mía quản trò sẽ xác định và biếu không cho người cắt được cây mía thành tấm mía bằng nhau nhất. Nếu khoảng cách giữa hai cây, tấm mía có khoảng cách xa không bằng nhau so với quy định của trọng tài thì người chơi phải trả tiền và lấy cây mía đó mang về.
          5.4. Hội vỗ mông
Dân tộc Mông ở Hà Giang có rất nhiều trò chơi dân gian truyền thống, nhưng đắc sắc nhất vẫn là Hội vỗ mông. Vỗ mông một trò chơi dân gian, một nét đẹp văn hóa riêng có của người Mông. Không chỉ đơn thuần là trò vui trong ngày xuân mà còn là lời tỏ tình của các chàng trai, cô gái. Trước kia, cứ mỗi dịp Tết đến trên vùng cao nguyên đá, không ai hẹn ai, mọi người lại nô nức kéo đến bãi đất trống, khoảng sân rộng, trên các sườn đồi hay đoạn đường giao thông chạy qua thôn bản để cùng vui chơi tâm tình. Đây cũng là dịp để các thanh niên nam nữ Mông có cơ hội gặp gỡ, tìm hiểu nhau. Họ thường đi thành từng tốp nữ, tốp nam cùng với những lời hỏi thăm, chúc tụng đầu năm mới. Các chàng trai, cô gái cũng đưa mắt lựa chọn đối tượng cho riêng mình. Khi những ánh mắt đã tìm gặp được nhau, cô gái sẽ e thẹn tách khỏi đám đông chờ đợi, chàng trai ngay lập tức tiếp cận và vỗ vào mông cô gái nói lời ướm hỏi, nếu cô gái ưng thuận thì quay lại vỗ nhẹ vào mông chàng trai, cứ thế đôi trai gái vừa đi vừa chơi hội và vỗ qua vỗ lại trao nhau những lời yêu thương cho đến khi vỗ đủ chín cặp, tức là hai bên đã chấp thuận nhau, chỉ chờ đợi người làm mai mối để thành vợ, thành chồng. Nếu đã thực lòng ưng thuận, thì dù ngày hôm trước vỗ chưa đủ chín cặp họ sẽ hẹn lại gặp nhau để đến ngày hôm sau lại tâm sự và vỗ tiếp cho đủ. Nếu vỗ không đủ chín cặp hoặc hôm trước vỗ dở nhưng hôm sau không có cơ duyên gặp lại nhau nữa thì có nghĩa họ không thể thành đôi và như thế mỗi người lại tiếp tục đi tìm người khác có duyên hợp với mình. Trò chơi này không chỉ dành riêng cho thanh niên nam nữ mà những người đã có vợ, có chồng cũng có thể tham gia với hình thức hỏi thăm, chúc tụng nhau nhân dịp năm mới.
Tuy nhiên, từ  thập niên 80 đến nay một số trò chơi dân gian của các dân tộc vùng cao không còn được duy trì trong đời sống đồng bào, trong đó có hội chơi vỗ mông của đồng bào dân tộc Mông. Ngày nay phần lớn thanh niên nam nữ người Mông không còn biết đến hội chơi vỗ mông, một nét văn hóa độc đáo, một cách tổ tình chứa đựng đầy tính nhân văn riêng có của đồng bào Mông nơi mảnh đất cực bắc của Hà Giang đã bị mai một và gần như bị lãng quên theo thời gian.
          6. Chợ phiên
          Chợ vùng cao Hà Giang mang một không gian văn hóa đậm nét nhân văn bởi lẽ mỗi dân tộc có một nét văn hóa đặc sắc riêng và nét đẹp ấy được đồng bào nơi đây mang theo xuống chợ, tất cả đã hun đúc cho vẻ đẹp phiên chợ vùng cao.
          Chợ phiên tại thị trấn Mèo Vạc mỗi tuần họp một lần vào chủ nhật và bắt đầu từ rất sớm lúc mặt trời còn chưa mọc. Những người nhà ở lưng chừng núi, lưng chừng đồi xa tới “vài con dao quăng” xuống chợ từ lúc những dải sương, mây vẫn còn mềm mại gối đầu nằm êm đềm bên những sườn núi. “Đến hẹn lại lên”, những dòng người từ trên núi xuống, từ dưới thung lũng lên đổ về chợ làm náo nhiệt cả một vùng.
          Phiên chợ vùng cao đã ăn sâu vào trong tiềm thức, nếp nghĩ, nếp sống của người dân nơi đây, cũng như bất cứ du khách nào có dịp ghé thăm để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của chợ vùng cao. Mỗi dân tộc có một nét đặc sắc riêng và mang nét đẹp đó đến chợ. Đến với chợ vùng cao, mọi người sẽ được đắm mình trong sắc màu thổ cẩm, những thiếu nữ dân tộc Giáy, Dao, Mông, Lô Lô xúng xính trong trang phục truyền thống của dân tộc, tạo nên sự huyền ảo của sắc màu dân tộc và không khí vui tươi cho ngày chợ. Dạo chơi để hòa chung với phiên chợ vùng cao ta mới cảm nhận được thật sự cái đẹp ẩn chứa trong đó, không phô trương cầu kỳ mà thay vào đó sự mộc mạc đượm nét nhân văn.
          Sản phẩm của địa phương được bày bán trao đổi ở chợ là sự kết tinh trong lao động, sự cần cù của người dân vùng cao – nơi còn nhiều khó khăn, thiếu nước và thiếu đất sản xuất mà người dân vẫn vươn lên để thoát khỏi đói nghèo, vẫn làm ra những sản phẩm để đem đến chợ bán. Hơn nữa những sản phẩm đó còn phản ánh “hơi thở cuộc sống”, nét văn hóa của mỗi dân tộc như hàng vải lanh, khăn thổ cẩm, hàng ẩm thực, nhạc cụ truyền thống (khèn Mông)…
          Người đến chợ cũng mang nhiều mục đích khác nhau: Để trao đổi buôn bán, gặp nhau trao đổi tâm tình, đi chơi chợ sau những ngày làm việc vất vả, hay các chàng trai, cô gái đi nương gặp nhau bén duyên thầm để rồi hẹn gặp nhau ngày chợ…. Tất cả đã hun đúc cho vẻ đẹp phiên chợ vùng cao. Đến bất cứ phiên chợ nào chúng ta cũng bắt gặp những nồi thắng cố sôi sung sục bốc khói nghi ngút và những người đi chợ lại cùng nhau quay quần xung quanh hả hê với chén rượu nồng, thức ăn mang từ nhà đi cũng được bầy ra. Mọi người cùng uống rượu rồi say cái say tình, say nghĩa, cứ thế mỗi câu chuyện là một tuần rượu qua. Chợ vùng cao là nơi mọi người tìm đến với nhau để cùng sẻ chia, cùng giao lưu và gửi gắm. Các cô gái đi chợ sẽ chọn cho mình bộ váy đẹp nhất để trưng diện. Bộ váy sặc sỡ sắc màu, những nụ cười duyên, những tiếng khèn điêu luyện đầy quyến luyến … cũng chính từ những phiên chợ đã có nhiều đôi trai gái nên vợ, nên chồng. Họ đã say nhau từ điệu múa, giọng hát, tiếng khèn để rồi họ hẹn nhau những phiên chợ sau. Cứ thế phiên chợ đã trở thành nỗi nhớ khắc khoải đợi chờ đối với những người đến chợ.
          Sự cần cù, chịu thương, chịu khó của người phụ nữ vùng cao Hà Giang, chúng ta có thể bắt gặp và cảm nhận được, họ đi chợ vẫn tranh thủ se từng sợi lanh thể hiện sự khéo léo cần cù trong lao động được họ mang theo đến chợ. Vào ngày chợ, dù ở bất cứ nơi đâu ta cũng được nghe tiếng khèn tha thiết gọi bạn, cùng say trong men rượu, gặp những người vợ thủy chung cầm ô che nắng cho người chồng vui quá chén, tới khi chồng tỉnh để cùng nhau dắt ngựa về… Chợ vùng cao ngoài việc giao lưu trao đổi thương mại còn là nơi để giao lưu trao đổi văn hóa của người dân. Các buổi giao lưu văn hóa, văn nghệ, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước cũng được diễn ra trong ngày chợ do các cơ quan đơn vị chức năng tổ chức, nhằm nâng cao nhận thức của người dân; tuyên truyền nếp sống văn hóa nơi dân cư, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Các tiểu phẩm, tiết mục ca, múa hát cũng phản ánh đời sống, phong tục tập quán của người dân vùng cao, những nét văn hóa phi vật thể, qua đó thu hút được nhiều người dân đến xem và cùng giao lưu và đó đã trở thành “món ăn tinh thần” quan trọng, có ý nghĩa đối với người dân nơi đây.
          Giờ đây cuộc sống của người dân ngày càng phát triển, chợ cũng có nhiều đổi thay, nhưng những nét đẹp truyền thống, những bản sắc văn hóa của các dân tộc mãi trường tồn, vẫn là các nét rất riêng của những phiên chợ vùng cao Hà Giang.


Tin cùng loại