Văn hóa

DÂN TỘC MÔNG

20/09/2016

I. SƠ LƯỢC VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC MÔNG HUYỆN MÈO VẠC
1.Khái quát chung
Đây là dân tộc đông dân nhất trong các dân tộc huyện Mèo Vạc, người Mông có tính cần cù, sáng tạo, khéo léo trong lao động; nhạy cảm, tinh tế và thích ứng nhanh với môi trường khắc nghiệt quanh năm để vươn lên, tồn tại và phát triển. Họ giỏi nghề rèn công cụ lao động, đặc biệt là bằng đồ sắt (cày, cuốc…); rất yêu thích thiên nhiên và thú rừng hoang dã. Đặc tính này đã in bóng dáng trong nhiều chuyện kể, trong ca dao, dân ca, tục ngữ Mông. Về cơ cấu, tổ chức, người Mông sống cụm thành bản làng theo dòng họ trên địa bàn của 18 xã, thị trấn.
2. Về đời sống kinh tế:
Địa bàn cư trú của người Mông là núi cao hiểm trở, đời sống kinh tế của người Mông trên địa bàn huyện Mèo Vạc hình thành 03 vùng khá rõ rệt, gồm: Vùng 1 : gồm 03 xã biên giới (Xín Cái, Thượng Phùng, Sơn Vĩ); Vùng 2: gồm 9 xã và 01 thị trấn (Pải Lủng, Pả Vi, Lũng Chinh, Sủng Máng, Sủng Trà, Tả Lủng, Lũng Pù, Cán Chu Phìn, Giàng Chu Phìn); Vùng 3: gồm 05 xã núi đất (Khâu Vai, Niêm Sơn, Niêm Tòng, Tát Ngà, Nậm Ban), tuy nhiên tỷ lệ người Mông sống tập trung chủ yếu tại vùng 1 và vùng 2. Cây trồng và lương thực chính của người Mông là cây ngô, ngoài ra còn trồng xen canh các cây lương thực khác như khoai, đậu…Sản phẩm chăn nuôi của người Mông chủ yếu là Dê, Bò, Ngựa, Lợn, Gà, Ngan…các sản phẩm này mới chỉ dừng lại ở mức tự cung, tự cấp. Trong mấy năm gần đây, được sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước, của tỉnh và của huyện, người Mông ở Mèo Vạc đã biết phát huy thế mạnh trồng cỏ gắn với chăn nuôi bò hàng hóa, chăn nuôi bò vỗ béo ; đẩy mạnh nuôi ong lấy mật và tạo nên thương hiệu mật ong Bạc hà được công nhận chỉ dẫn địa lý.
Tập quán canh tác trên nương đá của đồng bào Mông
Bên cạnh đó, người Mông đã sản xuất ra được nhiều mặt hàng thủ công như dệt vải lanh, đan quẩy tấu, rèn đúc nông cụ bằng sắt,…Tiêu biểu là nghệ nhân Chứ Chúng Lầu ở thôn Sủng Cáng, xã Sủng Trà đã có thâm niên hơn 30 năm chế tác lưỡi cày rất nổi tiếng, đã đạt đến trình độ khá cao. Nhà của người Mông được làm khá khang trang, bằng cột gỗ hoặc trình tường đất. Hầu hết, người Mông ở Mèo Vạc đều biết xếp tường rào đá, không chỉ để bảo vệ ngôi nhà và tài sản của mình, mà còn tạo nên những bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ trên Cao nguyên đá.
Nhìn chung, đời sống kinh tế của đồng bào người Mông trên địa bàn huyện vẫn còn gặp nhiều khó khăn, phụ thuộc vào thiên nhiên, thiếu đất sản xuất, nước sinh hoạt. Tuy nhiên trong những năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, do đó đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc Mông của huyện Mèo Vạc đã được cải thiện đáng kể.
Nghệ nhân đúc lưỡi Cày – Chứ Chúng Lầu ở thôn Sủng Cáng, xã Sủng Trà
3. Về đời sống xã hội: Dân tộc Mông có cuộc sống sinh hoạt văn hóa tinh thần phong phú, về nghi lễ tín ngưỡng đa dạng, đặc biệt là cộng đồng dòng họ.
3.1. Hôn nhân
Hôn nhân của người Mông cũng như dân tộc khác trên địa bàn huyện Mèo Vạc, về cơ bản là một vợ một chồng. Tình yêu trai gái từ bao đời đã được thể hiện trong ca dao, dân ca với khát vọng yêu đương và tự do lựa chọn bạn đời. Song hôn nhân của tuổi trẻ lại lệ thuộc vào nhiều lễ nghi, nhiều tập tục từ ngàn đời để lại. Trong những tập tục ấy có nhiều nét đẹp, song cũng có nhiều nét còn lạc hậu. Hôn nhân cưới xin của dân tộc Mông ở Mèo Vạc được tiến hành theo ba bước như: Dạm ngõ, ăn hỏi và lễ cưới.
Trai gái dân tộc Mông tham gia Hội vỗ mông để tìm bạn
3.2. Lễ cưới
Ngày lành, tháng tốt, đón dâu do nhà trai quyết định. Nhất thiết phải có một đôi gà (trống, mái) để thờ tổ tiên, một đôi để lại mặt, một con dao quắm thờ thần dao. Thành phần sang nhà gái gồm 11 hoặc 13 người (số lẻ). Tùy theo kinh tế của mỗi nhà mà tổ chức lớn hay nhỏ, song các đám cưới người Mông đều phải mổ lợn; gia đình khá giả hơn có thể mổ bò và ăn uống vài ba ngày. Người Mông rất kiêng trong ngày cưới có tiếng sấm, vì họ cho rằng tiếng sấm mang lại những điều không tốt lành cho hạnh phúc lứa đôi. Đặc biệt bộ váy áo cưới của cô dâu xem xét rất tỉ mỉ (hoa văn, kích cỡ). Còn tiền lễ tùy theo thỏa thuận giữa hai gia đình. Bàn tiệc cưới xếp cho đại diện hai họ phải là bàn vuông truyền thống.
3.3. Về ăn và ở
a. Về ăn: Lương thực chính của người Mông là ngô, được chế biến thành hai loại dùng trong bữa ăn hàng ngày là mèn mén và làm bánh trong những ngày lễ Tết, hội hè.
Món ăn mèn mén của người Mông
Mèn mén được làm bằng bột Ngô cho vào chõ đồ. Khi hơi toả đều trên mặt chõ thì đổ ra nia, vò xoa. Lại cho vào chõ đồ lần thứ hai cho tới lúc chín và để ăn cả ngày. Việc chế biến ngô từ hạt thành mèn mén cũng mất nhiều công sức.
Bánh ngô được làm từ ngô nếp hoặc ngô tẻ non. Nếu là ngô non, bà con lấy quả ngô bánh tẻ và phải lấy dao mỏng lát lấy hạt, cho vào cối xay được thứ nước quánh đặc trắng như sữa. Gói bột ngô ấy vào lá đồ thành bánh. Nếu là ngô nếp cũng xay bột và ủ nước để được thứ bột như bột gạo của người Tày, người Kinh làm bánh phở, rồi gói lại thành những tấm bánh đem đồ. Từ bột ngô này, bà con còn chế biến thành bánh trôi...
Thức ăn hàng ngày của người Mông gồm có rau cải, rau bí. Ngày mùa, ngày tết, lễ có thêm thịt gà, dê, lợn, bò. Thịt lợn, thịt bò còn được treo gác bếp làm thức ăn dần. Người Mông thích thức ăn ninh nhừ. Gia vị chủ yếu là ớt và gừng.
Thịt lợn treo gác bếp
Trong gia đình nếu có khách thường ngồi cùng một mâm, ăn uống bình đẳng, những nhà đông người hay có khách thì chủ gia đình, đàn ông ăn trước, sau đó mới tới đàn bà, con gái.
Nhìn chung, cách thức ăn uống của người Mông đơn giản, song cũng có một số quy định như, con dâu không được ngồi gần bố chồng, bát uống nước hoặc ống điếu của con dâu khi đưa cho bố mẹ chồng phải tráng lại. Một số dòng họ có những kiêng khem riêng trong ăn uống như họ Giàng không ăn tim, họ Lý không ăn lá lách loài vật bốn chân.
Món Thắng cố bò
Món ăn phổ biến người Mông ưa dùng trong mọi ngày, cả giỗ, tết, đó là thắng cố: Món thịt thường băm to, cả xương, lòng hầm nhừ trong chảo. Ở các chợ vùng cao, người ta làm món thắng cố từ chiều hôm trước, ninh nấu qua đêm, khi ăn múc ra bát, ăn nóng. Hàng thắng cố thường đông người. Thịt dùng làm món thắng cố thường là thịt ê, thịt ò.
b. Về ở: Do đã ở định cư nên nhà cửa người Mông làm khá khang trang. Có hai loại nhà thường gặp, đó là nhà gỗ lợp tranh, lá, phên vách và loại nhà trình tường lợp ngói. Người Mông ở nhà đất, song nhà nào cũng có gác để cất giữ lương thực, thực phẩm và đồ dùng. Nhà của người Mông làm thống nhất theo một khuôn mẫu nhất định, dù to hay nhỏ, dù trình tường lợp ngói hay vách liếp lợp tranh cũng đều theo dáng chữ đinh.
Kiến trúc nhà ở truyền thống của dân tộc Mông
Mỗi nhà có ba cột, một xà. Nhà to, nhỏ đều ba gian, không có trái hai đầu như thường thấy ở một số dân tộc khác. Hiện nay, một vài nhà làm thêm trái, song nhất thiết không có cửa ngách thông sang và gian trái là gian riêng biệt.
Khi chọn đất làm nền nhà, người ta lấy từ 5 đến 7 hạt gạo hoặc ngô, khẽ vén một lớp đất rồi cho xuống, lấy một bát to hoặc chậu gỗ đậy lên. Đốt 3 nén hương khấn thần đất, gửi 3 tờ giấy bản (đốt sau khi khấn) với hàm ý làm đơn xin thổ công, thổ địa cho gia chủ làm nhà. Ngay sáng hôm sau, chủ nhà quay lại, nếu số ngô trong bát úp vẫn còn nguyên như cũ thì nơi đó là đất tốt. Nếu số ngô vẫn còn, thì vun lại bởi con sâu, con kiến gì đấy tác động vào, song chưa ăn, thì đất đó vẫn coi là nơi làm nhà được. Nhược bằng số ngô bị sâu kiến ăn mất một phần hoặc mất cả, thì đó là nơi đất xấu không nên làm nhà.


Tin cùng loại